Tuesday, May 22, 2018

Bài viết hay(6575)

Bài viết hay(6574)

Nhân tài bỏ việc

Trong một buổi làm việc hồi tháng Tư, ông Nguyễn Thương , phó giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng đề cập chuyện tỷ lệ học viên xin ra khỏi Đề án 922 "tương đối lớn".
Đề án 992 là đề án phát triển nguồn nhân lực cao, bỏ nhiều tiền đưa nhân tài đi học ở nước ngoài rồi về phục vụ cho thành phố. Nhưng đến nay, có 40 trong số 460 người về công tác đã nghỉ việc. Một tỷ lệ khác, sẽ nhẫn nại chờ đến lúc hết 7 năm làm việc theo cam kết rồi “nhảy” ra khỏi nhà nước - đơn giản vì họ không có tiền đền bù cho thành phố.
Ông Thương nói một thời gian dài cán bộ công chức có tâm tư là không biết khi nào đến lượt mình được bổ nhiệm, vì thấy: "Từ anh thư ký, đến bà con được bổ nhiệm, còn anh em đường đường chính chính thì khó quá. Vấn đề này diễn ra từ phường, quận cho đến thành phố".
Trong cuộc khảo sát mấy năm trước, 64,6% học viên cho biết công việc được bố trí không phù hợp với chuyên ngành, sở trường. Nhiều người không thích nghi được môi trường làm việc hành chính và cho rằng lãnh đạo thiếu quan tâm, chưa cởi mở, chưa lắng nghe tiếp thu ý kiến từ cấp dưới. 12,5% học viên đang đi làm cho biết sẽ không tiếp tục làm việc, với các nguyên nhân môi trường chưa tốt, mức lương chưa đảm bảo cuộc sống, không có cơ hội thăng tiến.
Thậm chí, có xu hướng học viên xin ra khỏi đề án và chấp nhận bồi hoàn kinh phí cho thành phố. Khi một thanh niên chưa ổn định sự nghiệp mà sẵn sàng trả tiền tỷ chỉ để được… nghỉ việc, chấp nhận đối mặt với việc bị kiện để được bẻ lái cuộc đời, thì lương chắc chắn không phải là vấn đề duy nhất.
Những đặc thù cứng nhắc của môi trường nhà nước chắc chắn có vai trò quan trọng trong quyết định ra đi. Có học viên khi bị Đà Nẵng khởi kiện ra tòa, nói rằng họ chỉ có nguyện vọng tiếp tục học lên tiến sĩ bằng kinh phí tự túc, chỉ cần gia hạn cho họ thời gian rồi sẽ về làm việc cho thành phố, nhưng không được chấp thuận. Bồi hoàn tiền gấp nhiều lần số tiền đã nhận để tiếp tục được học, hẳn nhiều tiến sĩ sẽ không còn hãnh diện khi nhắc đến hai từ Đà Nẵng.
Con số 12,5% học viên đang chờ đến hết thời gian công tác để "nhảy việc" có lẽ không phản ánh đầy đủ tâm lý những người được gọi là nhân tài này. Họ không muốn phá vỡ hợp đồng vì không có tiền tỷ bồi hoàn, nhưng khi đó thành phố chỉ giữ được thân xác, còn tâm trí đã để ở nơi khác, không còn động lực cống hiến.
Từng viết nhiều về chủ đề nhân tài ở Đà Nẵng, câu chuyện nhiều học viên bỗng dưng nghỉ việc khiến tôi quan tâm. Tôi đem thắc mắc của mình đến giám đốc Trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao TP Đà Nẵng, đơn vị quản lý đề án.
“Chờ đợi lâu nhưng không được tuyển vào công chức hoặc không được sắp xếp công việc phù hợp có phải là nguyên nhân chính khiến họ nghỉ việc?", tôi hỏi. Câu trả lời nhận được khá chung chung: học viên đưa ra lý do thường liên quan đến yếu tố gia đình, sức khỏe hoặc muốn tìm công việc khác.
Tôi rất chờ đợi một cái nhìn trực diện và những bình luận thẳng thắn của lãnh đạo thành phố về vấn đề này. Nhưng cuối tuần qua, buổi làm việc giữa chủ tịch Huỳnh Đức Thơ với học viên đề án lại phải hoãn, vì lãnh đạo “bận công tác đột xuất”.
Một cái nhìn trực diện và thấu đáo là cần thiết, vì chuyện nhân tài bỏ việc không phản ánh một tâm trạng cá biệt của những người đi học ở nước ngoài về. Nó còn phản ánh niềm tin chung của đội ngũ công chức với hệ thống mình đang phục vụ.
Mới đây, thành phố trải qua đợt thanh tra, điều tra liên quan đến nhiều sai phạm. Phó giám đốc Sở Nội vụ nói rằng nhiều công chức đang “run sợ” trong quá trình tham mưu. Ông dùng từ “dao động” để nói về tâm lý của đội ngũ.
Một công chức nói với tôi rằng, anh mất niềm tin sau vụ việc hàng loạt lãnh đạo thành phố bị khởi tố, bắt giam liên quan đến vụ án Phan Văn Anh Vũ. "Tôi chán nản. Vì những lãnh đạo đó mình phục vụ từ khi các anh còn làm giám đốc sở. Họ trước đây như những mô hình lãnh đạo gương mẫu cho mình phấn đấu".
Sự đánh mất niềm tin này, từ chính các thành viên hệ thống, chứ không phải là nỗi cám cảnh lương thấp, mới là thứ đáng sợ nhất với chính quyền.

Xin lỗi Việt Nam

Sáng 11/3, người dân làng Hà My đón 41 vị khách Hàn Quốc tới dự một lễ tưởng niệm.
Tròn nửa thế kỷ trước, những người lính Đại Hàn thuộc Lữ đoàn Rồng Xanh trong bộ áo quần rằn ri, bọc bên ngoài áo giáp đã tới ngôi làng nhỏ giờ thuộc Điện Bàn, Quảng Nam này, nã súng vào những người dân thường, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. 135 người thiệt mạng. Dọc những con đường đất là những thi thể nằm vất vưởng, sau này được gom về hai ngôi mộ tập thể. Ở làng Hà My này, có những dòng họ đã bị xóa sổ trong ngày hôm đó.
Những người Hàn Quốc hôm nay đến Hà My để nhìn thấy tấm bia ghi tên 135 người, trong đó có những em nhỏ chưa lọt lòng mẹ phải viết thành “Vô Danh”, và sờ vào những thương tật của nhiều người còn sống.
Tất cả 41 người Hàn Quốc đã cúi đầu, quỳ gối trước tấm bia và trước hàng trăm người dân Hà My để nói lời xin lỗi. "Đứng trên mảnh đất nơi từng là hiện trường của một vụ thảm sát tang thương tột cùng, không thể tin và cũng không muốn tin này, chúng tôi không cất nổi thành lời, dù chỉ là một lời xin lỗi, chỉ còn biết gồng mình cố nén tiếng khóc", ông Kang U Il - Chủ tịch Quỹ Hòa bình Hàn - Việt nói.
Nữ tiến sĩ lịch sử Ku Su Joeng đưa tay quệt những giọt nước mắt lăn trên má bà Thú. Tiếng súng của quân đội Hàn Quốc ngày 24 tháng Giêng năm 1968 đã cướp đi của cụ hai người con. May mắn sống sót sau trận càn, nhưng bàn chân phải của cụ bị lựu đạn cắt mất một nửa, bước đi đầy khó nhọc.
Người phụ nữ Hàn Quốc cố giấu đi cảm xúc thật của mình. Nhưng cho đến khi khi cụ Thú ngã xuống nền gạch vì cố rướn người thắp cho hai đứa con một nén hương, vai của nữ tiến sĩ đã rung lên.
Đến Việt Nam học thạc sĩ lịch sử, gần 20 năm trước, những tập hồ sơ làm luận văn đã đưa cô học viên Ku Su Joeng sang một ngã rẽ khác. Những điều bà chưa từng đọc trong sách giáo khoa Hàn Quốc được ghi lại ở tài liệu của phía Việt Nam. Suy nghĩ "phải tìm sự thật" đã thôi thúc nữ học viên này đến những làng quê ở Việt Nam.
Điều bà lo lắng nhất lúc đó là sự phản ứng của nạn nhân thảm sát khi bắt gặp một người Hàn Quốc. Thậm chí khi đi qua tấm bia ghi hai chữ "Căm thù" ở Bình Hòa (Quảng Ngãi) bà đã không dám nghĩ đến những phản ứng của các nhân chứng. Điều may mắn của Ku Su Joeng là người Việt Nam đã khép lại quá khứ, chấp nhận lời xin lỗi.
18 năm qua, nữ tiến sĩ khởi xướng phong trào "Thành thật xin lỗi Việt Nam", và làm cầu nối để những người Hàn Quốc biết về quá khứ của dân tộc họ. Bà cũng may mắn khi tìm được một tờ dám đăng những bài phóng sự nêu ra tội ác của quân đội Hàn Quốc, dù ngay sau đó tòa soạn này bị những cựu binh Hàn Quốc tấn công.
Những người Hàn Quốc đã cúi đầu khi đối diện các nhân chứng. Đó là khi họ nghe nạn nhân Nguyễn Thị Thanh ở làng Phong Nhất - Phong Nhị (Quảng Nam) kéo tà áo để lộ ra vết thương do đạn xé toạc. 8 tuổi, bà Thanh cùng ba chị em mình bị toán lính Hàn Quốc phát hiện khi trú ẩn dưới hầm. Từng người một bước lên đã bị những người lính nổ súng bắn giết. Bụng rách, Thanh lấy đôi tay bé bỏng "vá" lại, chạy ra cánh đồng tìm mẹ, mà không hay biết những thi thể nằm ngổn ngang gần gốc cây da dù có mẹ của mình.
Đó còn là khi họ nhìn vào đôi mắt mù lòa sau trận thảm sát của ông Đoàn Nghĩa ở xã Bình Hòa (Quảng Ngãi). Ông sống sót khi nằm dưới xác mẹ ngập ngụa trong bùn non và thuốc súng, xung quanh là hàng chục thi thể. Người mẹ khi đó đang cho ông bú sữa thì lính Hàn Quốc ập đến, xuống tay không thương tiếc.
Sống trong bóng tối ngần ấy năm, nhưng lòng ông đã nguôi ngoai nỗi uất hận. "Họ đã xin lỗi rồi, quá khứ hãy cứ để nó ngủ yên". Còn bà Thanh bảo bà không muốn kể lại quá khứ nữa, vì kể là bà lại đau lòng. Nhưng những người Hàn Quốc đã đến, thì bà phải kể để họ biết sự thật.
Tôi đi theo đoàn người Hàn Quốc, bị hòa lẫn vào cảm xúc của những nhà văn, sinh viên với đôi mắt nháng nước gục vào lòng ông Nghĩa, bà Thanh. Đến lễ tưởng niệm 50 năm thảm sát làng Hà My hôm 11/3, ngoài những nhà văn, luật sư, còn có đại biểu quốc hội Hàn Quốc - ngài Kim Hyun Kwon. Ông Kim Hyun Kwon là người của Đảng Dân chủ cầm quyền.
Họ tìm đến Việt Nam trong tour du lịch vì hòa bình. Gặp mặt nhân chứng thảm sát là một trải nghiệm hay là một cơ hội để họ được nghe và được vỡ òa. Nước mắt và lời xin lỗi không hẳn là vì những nạn nhân bị thảm sát, mà vì chính họ. Bởi khi đó họ nhìn rõ tội ác chiến tranh, sám hối và cảm thấy thanh thản.
Qua nhiều cuộc chiến tranh, khắp đất nước này có không biết bao nhiêu lễ tưởng niệm. Nhưng không phải nơi nào, lịch sử cũng được nhìn nhận với một thái độ sòng phẳng và ăn năn. Những lời xin lỗi ở Hà My chỉ là của các cá nhân Hàn Quốc. Những người Mỹ cũng chưa bao giờ thẳng thắn thừa nhận trách nhiệm với việc rải dioxin tại Việt Nam. Khi nhìn vào các nạn nhân, họ chỉ dám nhìn vào những phần khuyết tật để đồng cảm. Và hôm qua, hôm nay, ở đâu đó trên dải đất hình chữ S này là những lễ tưởng niệm người đã ngã xuống vì tiếng súng tàn bạo từ ngoại bang, mà chưa bao giờ nhận được một lời thú nhận và sám hối.
"Khép lại quá khứ để hướng tới tương lai" là một quan điểm đang thường trực. Nhưng nếu lịch sử không được viết lại một cách sòng phẳng, thì tương lai sẽ lặp lại những vết xe đổ. Những người như tiến sĩ Ku Su Joeng muốn phơi bày lịch sử, chỉ với tâm nguyện những người Hàn Quốc phải biết những sai lầm quá khứ để không vấp phạm.
Sòng phẳng với lịch sử, không bao giờ là điều quá muộn.
Nguyễn Đông

Quốc hội làm đêm

Thỉnh thoảng, tôi vô tình đi cùng một chuyến tàu buổi sáng với Robin Reda. Chuyến tàu đi từ Savigny-sur-Orge, thành phố ngoại ô nơi chúng tôi đang sống vào Paris để làm việc.
Sinh năm 1991, Robin Reda trở thành thị trưởng của Savigny-sur-Orge vào năm 22 tuổi. Từ năm ngoái, chàng trai này đã là dân biểu của Hạ viện Cộng hòa Pháp.
Sự đặc biệt của Robin Reda, cộng với cảm giác gắn bó của một hàng xóm qua những chuyến tàu vô tình, khiến tôi liên tục theo dõi cậu qua trang cá nhân. Vậy là bỗng nhiên, tôi lại được cập nhật lịch làm việc của một ông nghị, hay là giới dân biểu Pháp nói chung.
Reda và các đồng sự thường xuyên có những đêm trắng tại cung điện Palais-Bourbon - Tòa nhà Quốc hội Pháp - để thảo luận các dự án luật. Tìm hiểu thêm, tôi mới biết rằng hàng tuần các dân biểu Hạ viện Pháp đều đặn làm việc vào các buổi sáng, chiều và tối các ngày thứ Ba, Tư và Năm. Buổi sáng họ bàn việc từ 9h30 tới 13h, buổi chiều từ 15 tới 20h và buổi tối từ 21h30 tới 1 giờ đêm. Trong trường hợp các cuộc tranh luận cần kéo dài, phiên làm việc có thể tiếp tục sau một giờ sáng.
Trong một tường thuật về phiên họp đêm của các đại biểu quốc hội trên báo 20 Minutes, có đoạn: “Gần 6 giờ sáng, khuôn mặt của các dân biểu đầy mệt mỏi, lãnh đạo cánh hữu tại Hạ viện Christian Jacob yêu cầu tạm dừng phiên thảo luận sau một đêm dài và thông báo một tin quan trọng: Bánh sô cô la điểm tâm đã đến. Nhiều tiếng vỗ tay vang lên…”. 
Không hiếm luật đã được thông qua sau nhiều đêm trắng ở Hạ viện. Luật Hôn nhân đồng giới năm 2013 là kết quả của cuộc thảo luận từ 21h30 đến 8 giờ sáng hôm sau của họ.
Tuy vậy, báo chí vẫn kêu ca rằng chi phí cho những buổi làm việc đêm kéo dài là tốn kém, chủ yếu cho các bộ phận phục vụ. Vì thế, đã có một đạo luật năm 2014 nhằm hạn chế tối đa các phiên làm việc đêm của Hạ viện Pháp.
Theo dõi các kỳ họp Quốc hội Việt Nam, tôi thấy có những vấn đề đang được thảo luận phải dừng lại vì hết giờ hành chính. Điều này sẽ khiến các đại biểu mất thời gian “khởi động lại” tư duy và sự tập trung ở phiên làm việc sau, có thể cách nhau vài ngày. Nó có thể gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng luật.
Kỳ họp lần này mở đầu bằng một ý kiến của đại biểu Trần Hoàng Ngân rằng “Quốc hội cần làm hết việc chứ không phải làm hết giờ”.  Tôi rất đồng tình với đề xuất này vì đây là nguyên tắc làm việc dựa trên hiệu quả công việc chứ không phải tư duy “sáng cắp ô đi tối cắp về”.
Số lượng Đại biểu quốc hội khóa XIV hiện nay là 487 đại biểu so với 496 vào thời điểm bầu cử 2016, trong đó số đại biểu chuyên trách là 180 người, chiếm 36%. Mặc dù số đại biểu chuyên trách hiện chưa chiếm đa số, nhưng xu hướng tăng số đại biểu chuyên trách là điều chắc chắn. Thời gian qua, các Ủy ban của Quốc hội cũng đã có phiên làm việc tối. Do đó, yêu cầu làm hết việc chứ không hết giờ đối với các đại biểu chuyên trách sẽ không phải trở ngại lớn.
Ý kiến về việc “Quốc hội làm đêm” đã từng được phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu ra từ năm 2016, nhưng thời điểm đó, có nhiều ý kiến nói rằng đại biểu cũng phải mất nhiều thời gian ngoài giờ hành chính để nghiên cứu tài liệu. Không khí làm việc xuyên màn đêm ấy, dừng ở một ý tưởng đến tận hôm nay.
Từng làm việc với nhiều cán bộ của chính phủ và địa phương, tôi thấy họ có khả năng làm việc với cường độ cao không kém những đồng sự nước ngoài. Sau một chuyến bay dài 12 tiếng từ Việt Nam tới Paris, họ có thể bắt đầu các cuộc làm việc ngay sau khi vừa xuống sân bay lúc rạng sáng. Nhiều anh chị ở Việt Nam có thể làm việc xuyên đêm qua những buổi họp lệch múi giờ với chuyên gia ở nước ngoài qua mạng.
Nếu Quốc hội có thể điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt hơn chứ không khăng khăng theo lịch giờ hành chính, ngày nghỉ, và bù lại thời gian nghỉ ngơi cho đại biểu một cách hợp lý, tôi tin ta sẽ tiết kiệm được nhiều nguồn lực, mà chất lượng của nghị viện sẽ khác.
Đặc biệt, thay đổi này có thể cải thiện tốc độ làm luật, khi mà người dân hay được nghe báo cáo rằng Quốc hội còn nợ luật này, quy định kia… Tiến độ làm luật của chúng ta, thực tế luôn bị chậm so với kế hoạch.
Và người dân hẳn sẽ rất vui, nếu họ có những vị dân biểu để ngưỡng mộ vì tinh thần làm việc, như cách tôi đã ngưỡng mộ chàng trai trẻ ở ngoại ô Paris kia.
Võ Đình Trí

Bài viết hay(6573)


Sống bằng lương

Lúc tốt nghiệp ra trường với tấm bằng đủ “đẹp”, tôi đã dứt khoát xác định khối nhà nước không phải điểm đến của mình. Dù khi ấy, chuyên ngành của tôi phù hợp với khu vực công.
Tôi e ngại phải khởi đầu sự nghiệp bằng pha trà, rót nước, rồi tiếp đến mài đũng quần và tiến từng bước trên các ngạch bậc của con đường công chức. Nó quả thật không hấp dẫn chút nào so với cơ hội rộng mở ở những doanh nghiệp tư nhân hay nước ngoài đang phát triển nhanh lúc đó. Rất nhiều bạn bè tôi cũng lựa chọn tương tự.
Trong một chuyến công tác gần đây, tôi gặp một chuyên viên cấp bộ đã lựa chọn theo chiều ngược lại. Anh từ bỏ công việc đáng mơ ước với nhiều người để vào làm nhà nước. Xấp xỉ mười năm kinh nghiệm, đang ở vị trí trưởng phòng trong tập đoàn công nghệ viễn thông lớn nhất nước, anh quyết định thi tuyển vào bộ làm chuyên viên. Tính theo thang bảng lương hiện tại, thu nhập của anh chỉ hơn 6 triệu đồng mỗi tháng - bằng một phần rất nhỏ thu nhập trước đó. Anh quyết định ngược dòng, “mong vào nhà nước để đóng góp được nhiều hơn.”
Người đồng sự lớn tuổi đi cùng đoàn cũng bảo, trong suốt 20 năm ở khu vực công, đây là lần duy nhất anh chứng kiến chuyện ngược đời như vậy. Trước giờ chỉ có chuyện người tài rũ áo ra đi, chất xám từ “công” chảy ra “tư” chứ đâu có chiều ngược lại. Dù không hẳn là phát hiện mới, nhưng tôi vẫn giật mình khi biết mức lương dành cho chuyên gia 10 năm kinh nghiệm ở một đơn vị đầu não cấp bộ chỉ ngang lương một nhân viên tập sự vừa ra trường ở tổ chức tôi làm.
Đồng lương không đủ sống, khoảng cách tiền lương quá lớn giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân là một trong những vấn đề tâm điểm trong các thảo luận về cải cách khu vực công gần đây. Lương đường hoàng đúng nghĩa, chứ không phải là lương kèm “lậu”. Trong cuộc chiến chống tham nhũng, sẽ có những ý kiến cho rằng, những “sâu chúa” tham nhũng là những người đâu cần lương; và vì thế tăng lương đến đâu đi nữa cũng không thể giảm được động cơ tham nhũng. Điều đó chỉ đúng một phần. Bởi không cải cách lương bổng, không thể thu hút được người tài. Và lương thấp, trước hết cũng là khởi nguồn của  nhũng nhiễu và tham nhũng vặt.
Đề án cải cách tiền lương vừa được bàn thảo và thông qua ở Hội nghị trung ương 7 liệu có thể là cơn mưa phía chân trời? Từ bỏ ngạnh bậc và thâm niên để tiến tới trả lương theo vị trí công việc là định hướng đúng đắn. Nhưng để nó trở thành một cơn mưa giải hạn thì còn nhiều việc khác.
Trước hết, là câu hỏi giải quyết việc tinh gọn nhân lực khu vực công. Bởi đơn giản không thể tăng lương khi lượng nhân sự dư thừa khổng lồ vẫn ngồi đó. Quỹ lương cho biên chế trong những năm gần đây đã lên đến hơn 400 nghìn tỷ đồng, chi thường xuyên hiện đã chiếm hơn 70% chi ngân sách nhà nước. Nếu tăng quỹ lương bằng nguồn tiền từ tăng thuế, phí tức là tăng gánh nặng lên doanh nghiệp, người dân trong khi gánh nặng này đã ở ngưỡng tới hạn. Còn nếu tiếp tục tăng tỷ lệ quỹ lương trong gói ngân sách hiện tại thì không còn tiền chi cho đầu tư phát triển, tức ăn lạm cả vào hiện tại lẫn tương lai.
Sau Hội nghị trung ương IV, một loạt các chuyển động tinh giản đáng chú ý ở các bộ ngành đã được thực hiện, trong đó mạnh mẽ nhất là đề án ở bộ Công an, bộ Quốc phòng. Nhưng giảm đầu mối là chưa đủ. Bởi giảm đầu mối mới chỉ giảm được số ghế lãnh đạo. Đạt được mục tiêu giảm biên chế thực sự, chẳng hạn như ngành thuế đang theo đuổi mục tiêu cắt giảm 10% biên chế tới 2020, mới thực sự là bước đi thiết thực.
Và tiếp theo, trả lương theo vị trí công việc là bước đột phá cần thiết và đáng hoan nghênh. Nhưng đi đôi với nó, hệ thống đánh giá hiệu quả công việc của cán bộ, công chức, viên chức cũng quan trọng không kém. Bởi ngoài lương cơ bản theo vị trí, mức thưởng cần gắn với thành tích đạt được.
Ở cấp độ địa phương hiện nay, việc sử dụng các thước đo hiệu quả từ ý kiến của doanh nghiệp, người dân để đánh giá thành tích công vụ của lãnh đạo chủ chốt các cấp sở, ngành, quận, huyện là một sáng tạo. Các chỉ số như Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Năng lực quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR), Chỉ số xếp hạng chính quyền điện tử là những thước đo mới. Chúng khách quan và trung thực hơn để nhận biết công chức có đang ngồi chơi hay thực sự làm việc.
Để “cắt” được số công chức, viên chức sáng cắp ô đi, tối cắp về, phân bổ cho những người thực sự làm việc, thì cần 2 công đoạn xác định: ai là người thừa, ai là người làm việc.
Nhân tài, dù khát vọng cống hiến cho đất nước lớn đến bao nhiêu thì trước hết cần phải sống. Không thể có một bộ máy nhà nước mạnh, tập hợp tinh hoa của đất nước khi đồng lương không đủ sống.
Được đảm bảo thu nhập minh bạch và đàng hoàng cũng là điều kiện cần để công chức không phải đau lòng so đo chỗ này chỗ kia, tắt mắt của công, để họ toàn tâm toàn ý cống hiến hết năng lực của mình.
Giờ đây nếu được làm lại, tôi sẽ vẫn chọn khu vực tư chứ không bước vào “đường công chức”. Nhưng với những người như anh công chức ngược dòng ở trên, bộ máy công quyền đương nhiên phải có trách nhiệm đảm bảo những đãi ngộ, nếu không tốt hơn thì ít nhất ngang bằng, với những gì khu vực tư có thể cung cấp. Có như vậy, “nhà nước” mới là bến đỗ của những cá nhân tinh hoa nhất.Nguyễn Quang Đồng

Lấy sai sửa sai

Hai cảnh sát Anh bấm chuông khi tôi chuẩn bị đi làm vào năm ngoái. Họ trình bày rằng có một vụ mất trộm gần nhà tôi, trong thành phố Bristol, nên cảnh sát phải đến gặp hàng xóm để thu thập thông tin.
Anh cảnh sát còn dặn tôi có thể lên website của cảnh sát để theo dõi tiến độ điều tra vụ việc, đồng thời có thể kiểm tra thông tin về tình hình tội phạm xung quanh khu vực này.
Vài ngày sau, họ để lại ít tờ rơi dưới khe cửa, với đề nghị mọi người cảnh giác và báo cảnh sát ngay nếu thấy dấu hiệu đáng ngờ. Mấy tuần tiếp đó, xe cảnh sát rất thường xuyên chạy quanh khu nhà.
Dù tôi không mấy tin là cảnh sát có thể tìm ra ăn trộm, và người cảnh sát cũng thừa nhận là khả năng ấy thấp, nhưng anh tin rằng làm như vậy sẽ khiến ăn trộm “rất ít có khả năng quay lại”.
Một hôm khác, tôi đang ở nhà viết bài nghiên cứu thì hai y tá đến bấm chuông, các cô hỏi thăm rằng tôi có thấy nhà hàng xóm có người ở nhà sáng nay không? Tôi trả lời là không rõ. Hai cô cảm ơn và rời đi. Hai tiếng sau, khi tôi đi mua đồ ăn và quay về thì thấy xe cảnh sát đậu trước nhà hàng xóm. Hai cảnh sát vừa đi ra. Họ chào tôi, kể rằng hai y tá đến kiểm tra tình hình một em bé mới sinh mà không thấy ai ở nhà nên báo cảnh sát kiểm tra. Khi cảnh sát đến thì chủ nhà đã về nhưng các anh vẫn phải vào nhà kiểm tra xem em bé có ổn không, nhắc nhở chủ nhà đặt hẹn lại với bệnh viện.
Trên báo Anh, cảnh sát luôn phải đối mặt với những chỉ trích là lực lượng vô dụng, thiếu hiệu quả, phân biệt chủng tộc. Ngân sách cho ngành cảnh sát luôn đứng trước áp lực bị cắt giảm khiến tôi có cảm giác là cảnh sát ở nước nào cũng bị kêu ca “không mấy hiệu quả”. Nhưng chứng kiến việc họ làm ngoài đời, ít nhất, họ làm tôi cảm thấy nếu có chuyện gì tôi có thể tin tưởng gọi đến nhờ giúp đỡ.
Và điều quan trọng hơn cả, là cách làm của họ bắn đi một thông điệp mạnh về sự ngăn chặn sớm. Họ huy động nguồn lực cao để “phòng ngừa” những sự cố nghiêm trọng có thể xảy ra, từ một vụ mất trộm, từ một nghi vấn nhỏ, chứ không chờ đến khi có người chết, có máu đổ hay áp lực xã hội lên cao trào mới quyết liệt hành động.
Chuyện buồn hiệp sĩ đường phố ở thành phố quê nhà khiến tôi suy nghĩ. Người ta gọi hiệp sĩ là diễn viên đóng thế, thế thì diễn viên chính đã làm gì trên sân khấu an ninh trật tự?
Cách tiếp cận vấn đề sẽ vô cùng sai và kéo theo hệ quả tệ hại hơn nếu chính quyền, cộng đồng, xã hội, báo chí còn cổ xúy cho việc khen ngợi, tung hô và khuyến khích thêm nhiều dân thường lao vào “nghề hiệp sĩ”. Khen thưởng, trang bị áo giáp, dạy võ, biểu dương… để khuyến khích họ tiếp tục tham gia cuộc đấu không cân sức với những tên cướp đã không còn nhân tính có thể khiến mất thêm nhiều sinh mạng oan uổng. Đó là một cách lấy cái sai này để sửa cái sai kia.
Để giải quyết vấn đề này một cách rốt ráo, tôi cho rằng có vài câu hỏi cần được trả lời. Thứ nhất, vì sao cướp ở TP HCM manh động và nguy hiểm đến như vậy?
Một nguyên nhân tôi nghĩ đến từ tệ nạn ma túy. Con số dự kiến “tổng người nghiện mỗi năm tăng 17%” tại TP HCM là một tỷ lệ đáng kinh hoàng. Những con nghiện, khi đã khát thuốc, không chùn tay làm bất cứ việc gì miễn có vài chục nghìn đồng. Ngoài ra, thành phố này cũng là nơi mà chênh lệch giàu nghèo cao hàng đầu cả nước. Đã có bằng chứng từ nhiều nghiên cứu cho thấy chênh lệch giàu nghèo cao làm tăng tỷ lệ tội phạm. Bởi nhiều người khi bị đẩy vào bần cùng hóa, bị gạt ra lề xã hội rất dễ suy nghĩ và hành động lệch lạc.
Đằng sau nạn tội phạm đường phố này thực sự là gì, là một câu mà rất nhiều người dân đang tự hỏi, và mong chờ chính quyền tìm ra. Vì chống tội phạm chỉ là phần ngọn, còn tại sao chúng hình thành mới là gốc. “Diễn viên chính” ở đây không hẳn là lực lượng công an, mà là nhiều ngành có trách nhiệm về an sinh xã hội, phải tự đặt câu hỏi “Tại sao?” để giải quyết.
Câu hỏi thứ hai, không phải là có cần trang bị áo giáp cho hiệp sĩ, hay làm gì để người dân bắt cướp giỏi hơn, mà là hiệu quả của lực lượng công an trong việc bảo vệ tài sản và sinh mạng của cộng đồng đang ở mức nào? Bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân là vai trò căn bản của Nhà nước. Để cho trộm cướp trở thành “đặc sản” đến nỗi người dân phải tổ chức thành các nhóm “hiệp sĩ” tự bảo vệ lẫn nhau thì tính chính danh của bộ máy Nhà nước ở đâu?
Không chỉ riêng chuyện bắt cướp. Nếu chỉ khi nhìn thấy hậu quả, khi đã mất người, đã đổ máu mới nghĩ cách sửa sai, thì những trục trặc kinh niên trong vận hành xã hội là điều thấy trước.Hồ Quốc Tuấn

Thái độ lao động

Tự biết mình rất vụng về, tôi thường phải dùng dịch vụ sửa chữa vặt trong nhà từ một công ty khá chuyên nghiệp. Sáng hôm rồi, anh thợ quen lại đến lắp chiếc máy lọc nước. Miệng nói chuyện vui, tay anh làm thoăn thoắt. Chỉ trong buổi sáng, cái máy đã chạy ro ro.
Nhận tiền công, anh chàng vui vẻ ra về. Còn tôi, như mọi lần trong suốt vài năm qua, lại lụi hụi đi thu dọn bãi chiến trường anh để lại. Nước và thuốc thử nhỏ giọt trên nền bếp, bụi xi măng tung tóe trên sàn nhà, các đoạn dây điện, băng keo vương vãi từ bệ bếp, bồn rửa đến cửa phòng.
Mỗi lần như thế, tôi lại nhớ đến ông thày bên Mỹ. Ông luôn dành tình yêu đặc biệt cho Việt Nam và luôn ưu tiên du học sinh Việt làm những công việc vặt trong khuôn viên của trường đại học ông dạy. Không chỉ giúp các em có thêm thu nhập, khoảng 12 USD mỗi giờ, mà còn làm hồ sơ của các em đẹp hơn khi ra trường, kiếm việc làm. Một lần, tôi tình cờ đến văn phòng ông đang lúc tốp thợ Mexico dọn dẹp sau khi sửa chữa. “Ô, sao Thầy không dùng thợ Việt?” – tôi hỏi. Trả lời câu hỏi của tôi, ông cười bí hiểm: “Tao không gọi, rồi mày sẽ thấy”.
Chỉ căn phòng sạch sẽ, gọn gàng sau khi tốp thợ ra về, Thầy nói: “Đó là sự khác biệt. Thợ Việt chỉ làm phần được trả tiền, còn lại tao phải tự dọn”.
Không chỉ là trải nghiệm cá nhân của người thầy Mỹ, hay bản thân tôi, mà quả thực, thái độ làm việc luôn là điều nhiều người than phiền mỗi khi nhắc tới lao động Việt. Không chỉ ở trong nước mà ở hàng chục quốc gia nơi tôi đã từng đến. Và chắc chắn, nó là rào cản lớn tiến đến thịnh vượng cả trong quá khứ, hiện tại, và tương lai đất nước.
Cách mạng công nghiệp 4.0 cảnh báo về  khả năng máy móc cướp đi công việc của con người. Thay vì lo lắng, tại sao chúng ta không đặt câu hỏi theo chiều ngược lại. Rằng làm thế nào để công việc của mỗi chúng ta không thể bị cướp bởi robot? Tôi chắc rằng, thái độ làm việc là vế đầu tiên trong câu trả lời phức hợp này.
Mỗi nhà quản lý có thể đưa ra các tiêu chí khác nhau khi đánh giá nhân viên của mình và chính bản thân họ, tùy thuộc vị trí công việc, đặc thù của công ty, môi trường cạnh tranh hay các yếu tố văn hóa của từng quốc gia. Song có một công thức luôn được coi như nền tảng để đánh giá nhân viên: ASK. Đó là Attitude - thái độ làm việc, Skill - kỹ năng, và Knowledge - kiến thức. Bạn có thể học kiến thức từ trường lớp, internet, sách, người khác... Kỹ năng được trau dồi qua thực tế công việc, theo kiểu “Trăm hay không bằng tay quen”.
Hai yếu tố kiến thức và kỹ năng có thể hấp thụ từ bên ngoài, nhưng thái độ chỉ có thể cải thiện bởi sự lựa chọn từ bên trong của chính từng người. Đó cũng là yếu tố mang lại sự khác biệt của bạn trong đám đông, một sự khác biệt hoàn toàn so với các cỗ máy vô hồn trong thời đại 4.0.
Diễn đàn kinh tế Thế giới mới đây dự báo 10 yêu cầu quan trọng nhất với người lao động trong 10 năm tới, các yếu tố về thái độ làm việc ngày càng chiếm vai trò quan trọng và chiếm tới 3 tiêu chí. Trong đó, trí thông minh cảm xúc (emotional itelligence) và định hướng phục vụ (service orientation) là hai tiêu chí xếp hàng đầu.
Sẽ là không tưởng nếu yêu cầu lao động Việt có thể hấp thụ kiến thức mới, kỹ năng mới ngay lập tức, vì nó đòi hỏi môi trường, thời gian và tùy thuộc khả năng dung nạp của từng cá thể. Nhưng chắc chắn sự thay đổi về thái độ lao động là hoàn toàn có thể vì nó do chính mỗi chúng ta tự quyết định, chỉ cần nỗ lực nội tại từ bản thân. Chỉ cần ý thức giữ vệ sinh khi làm việc, vài phút dọn dẹp khi hoàn thành để khi mình đi căn phòng giống như khi mình chưa đến; thầy tôi và cá nhân tôi sẽ cho điểm cao với những người thợ Việt.
Báo Japan Today, trong số ra đầu tháng Năm này đưa một bản tin thú vị về cuộc đình công của nhân viên lái xe bus hãng Ryobi Group (Nhật Bản). Để phản đối sự lãnh đạm của Ban Điều hành trong việc bảo vệ công ăn việc làm, sau nhiều lần gửi khuyến nghị mà không được hồi âm, họ đã đình công theo một cách riêng. Họ vẫn đi làm, nhưng phục vụ miễn phí, không thu tiền hành khách. Trong rất nhiều sự lựa chọn, họ đã chọn cách vẫn đảm bảo sự phục vụ khách hàng. Sự phản kháng khác biệt của họ đã được công luận lên tiếng, ủng hộ, và ngưỡng mộ. Nó giúp bảo vệ “khí chất” Nhật Bản, nơi mà trình độ phục vụ được đẩy tới đỉnh cao trong mọi hoạt động, ăn sâu vào tiềm thức mỗi người.
Nhật Bản đã là một trong những quốc gia sử dụng robot sớm nhất, nằm trong top 3 đất nước được robot hóa, nhưng vấn đề robot cướp việc của người lao động mà thế giới đang lo ngại chưa từng đe dọa xứ sở này. Tinh thần phục vụ, thái độ làm việc của người Nhật là một giá trị kinh điển mang lại sự hài hòa trong thịnh vượng cho đất nước.
Và tôi tin rằng, rủi ro mất việc sẽ đến với những ai chỉ làm duy nhất “phần việc được trả tiền”.Ngô Trọng Thanh

Ai Sẽ Nói Thay Cho Bạn?

Image result for Winans The Green Mall,Đầu tiên họ lùng bắt những người theo đảng Xã Hội, tôi đã không lên tiếng, vì tôi không theo đảng Xã Hội.
Khi họ đi lùng những người Công Giáo, tôi đã không lên tiếng, vì tôi không phải đạo Công Giáo.
Kế họ tìm những người theo đạo Do Thái, tôi đã không lên tiếng, vì tôi không phải đạo Do Thái.
Rồi họ tìm đến tôi,
và lúc ấy chẳng còn ai khác để lên tiếng thay cho tôi.
Những lời phát biểu trên của Mục Sư Martin Niemởller, một nạn nhân tù đày thời Đức Quốc Xã vẫn còn vang vọng mãi trong tâm trí bao nhiêu người yêu chuộng Tự Do hoặc đang thèm khát Tự Do. Ai sẽ nói thay cho bạn về những ước vọng, những khao khát về giá trị con người " Ai sẽ phát biểu sự chọn lựa mà bạn mong muốn nhất cho đời sống, cho cộng đồng, cho gia đình, cho tương lai con cái"
Chúng ta cần phải đứng lên, nói lên, nói to lên, trước khi không còn ai khác để nói thay cho chúng ta. Ngay cả trước khi chúng ta bị trực tiếp đe dọa chúng ta cần phải chọn lựa một thái độ thích hợp và bày tỏ quan điểm thích ứng đồng lòng với những tiếng nói khác để có thể biến Nước Mỹ thành một xã hội tốt đẹp hơn cho lý tưởng Tự Do cùng với mọi công dân Hoa Kỳ khác.
Trong kỳ đại hội các đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa chúng ta đều thấy những giọt nước mắt rất chân thành khi các diển giả nói lên về xứ sở của họ: Tôi là một người Mỹ đầy tự hào... chúng ta sẽ thấy ngay những ánh mắt long lanh, những tiếng hô biểu đồng tình, và cả những giọt lệ khi các diễn giả phát biểu về ước vọng sẽ làm quốc gia Hoa Kỳ tốt đẹp hơn...
Ngày tôi còn bé, có một vị thầy đã dẫn dắt tôi. Ông dạy cho tôi về giá trị của lý tưởng. Ông cho tôi trí tuệ, và mang tôi từ vùng bóng tối của khờ dại vào vùng ánh sáng của ước vọng và lý tưởng. Ông mang cho tôi những kiến thức lạ, và cho tôi khoảng trống để tôi tự suy tư tìm thêm đáp số thích hợp cho chính mình. Và tôi luôn luôn ước ao một ngày nào đó tôi cũng sẽ mang ánh sáng ấy cho những người kế tiếp. Một hôm tôi hỏi: Thưa thầy, thế nào là một công dân đúng nghĩa" Ông nói: Con ạ, không phải chỉ đơn thuần con được sanh ra ở một quốc gia nào đó, là con đã đương nhiên trở thành một công dân đúng nghỉa... Chỉ khi nào con sống đúng với cái lý tưởng mà đã khiến quốc gia đó trở nên phồn thịnh hơn, tốt đẹp hơn, đáng giá hơn...l úc bấy giờ con mới là một công đân đúng nghỉa của quốc gia ấy.
Trong kỳ đại hội đảng Dân Chủ vừa qua chúng ta nghe Hillary Clinton phát biểu: Các bạn, chúng ta phải cùng làm việc cho tổ quốc mà chúng ta rất yêu quý. Tôi đã không trải qua 35 năm phục vụ trong những hố thẳm khó khăn, tranh đấu cho quyền lợi trẻ em, cho bảo hiểm sức khỏe toàn quốc, cho quân bình giữa việc làm và gia đình, cho quyền của phụ nữ của Mỹ quốc và cả nơi khác để thấy tiềm lực và hứa hẹn của quốc gia bị đánh mất... khi các phòng đầu phiếu được khép cửa, và những quảng cáo về bầu cử không còn loan trên truyền hình, mọi sự sẽ do chính các bạn chịu trách nhiệm về sự chọn lưa, và nó sẽ ảnh hưởng đời sống của chính các bạn và tương lai con cái của các bạn... Chúng ta còn nhiều việc phải lo trước mắt: mất việc làm, mất nhà, giảm lương, giá đồ vật gia tăng, quốc gia mang nặng nợ, tiền mượn từ Trung Quốc để mua xăng dầu Ả Rập, chiến tranh Nga và Georgia, Iran và Iraq...
Từ 1848 một số phụ nữ can đảm và vài người đàn ông đã cùng đứng lên đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, vì vậy mà hằng mấy thập niên nay, từ 88 năm về trước phụ nữ đã được quyền bầu cử...
Trên con đường đấu tranh cho tự do một phụ nữ can đãm người New York, bà Harriet Tubman, người đã liều mạng sống nhằm cứu những nô lệ đi trốn từng chỉ dẫn: "Nếu bạn nghe chó sủa, cứ bước tới. Nếu bạn thấy đuốc đi lùng thắp sáng đầy rừng, cứ bước tới. Nếu có tiếng la đuổi theo bạn, cứ bước tới. Không bao giờ ngừng lại. Cứ bước tới. Nếu bạn muốn nếm mùi vị của Tự Do, phải ngang nhiên bước tới"...
Cựu Tổng Thống Bill Clinton phát biểu: Quốc gia chúng ta đang gặp nạn ở hai mặt: Giấc Mơ Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng ở trong nước, và thế lảnh đạo của chúng ta trên thế giới bị suy yếu... Giới trung lưu và giới thu nhập kém bị thiệt hại, nhà cửa bị tịch thu, và nợ thẻ tín dụng gia tăng... bảo hiểm sức khỏe gia đình biến mất, và tăng giá cao độ về giá hàng chợ, giá điện nước, giá xăng dầu...Vị thế của nước Mỹ trên thế giới bị suy giảm vì quá nhiều những quyết định đơn phương của chính quyền chúng ta và quá ít sự hợp tác của các nước khác, một sự lệ thuộc quá nặng nề vào xăng dầu nhập cảng, sự từ khước vai trò đối với hiện tượng tăng nhiệt toàn cầu, sự mang nợ gia tăng đáng lo ngại vào tiền từ nước ngoài, gánh nặng quân sự trầm trọng, và sự thất bại trong việc xử dụng sức mạnh của thương thuyết ngoại giao, từ Trung Đông đến Phi Châu, từ Nam Mỹ đến Trung Âu và Đông Âu... Hẳn nhiên, chúng ta cần một Tổng Thống mới để tái tạo lại Giấc Mơ Hoa Kỳ và xây dựng lại vị thế Nước Mỹ trên liên hệ thế giới...
Ứng Cử Viên Tổng Thống Barack Obama phát biểu:  Bốn năm trước, tôi đứng trước quý vị và kể chuyện của tôi, về sự gặp gỡ ngắn ngủi của một người cha từ nước Keynya và bà mẹ Kansas của tôi. Cả hai đều không giàu có và không ai biết đến, nhưng họ cùng có một niềm tin là tại Hoa Kỳ đứa con trai của họ có thể đạt được điều gì mà cậu ấy theo đuổi...Vì niềm hứa hẹn đó mà đã khiến quốc gia này đặc biệt, rằng với kiên nhẩn làm việc và hi sinh cho mục đích, mọi người chúng ta đều có thể đạt giấc mơ của chính mình... Đó là lý do tôi có mặt ở đây hôm nay...
Những người trên đây tuy phát biểu những lời kêu gọi nóng bỏng có mục đích chính trị trong kỳ vận động tranh cử nhưng đích thật cũng có một sợi giây vô hình nào đó đã nối kết họ lại từ một mẫu số chung của các người công dân Mỹ. Là công dân của một quốc gia đầy cá nhân chủ nghĩa nhưng họ tôn trọng một giá trị chung về tổ quốc Hoa Kỳ. Khi đối phó với khủng bố họ dẹp các khác biệt về chính trị để cùng đứng thành một phe, đối đầu với kẻ địch. Khi vận động tranh cử các ứng cử viên chỉ trích nhau, nhưng khi phiếu đã bầu xong và tiếng nói của đại đa số cử tri đã phán quyết, họ cùng yễm trợ người do đảng họ bầu ra. Họ tôn trọng luật chơi và hành xử theo luật chơi đó.
Điều này không khỏi khiến chúng ta tự nhìn lại thân phận chính mình và nêu lên một số câu hỏi.
Thế nào là điểm chung của chúng ta, những người Việt tị nạn khắp nơi" Chúng ta phải làm những gì cho những người không có cơ hội nói lên tiếng nói cho chính họ"
Đã được 33 năm kể từ ngày tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Indiantown Gap tại Pennsylvania. Trên biển cả lênh đênh đã có lần tôi suy tính sẽ không còn thiết sống nữa nếu bị Cộng Sản bắt được. Tập thể người Việt không từng bỏ nước ra đi năm 1975 chỉ vì miếng cơm manh áo. Chúng ta là những người tị nạn chính trị. Chính vì lý do đó mà nước Hoa Kỳ đã ưu tiên cho chúng ta vào nước Mỹ tị nạn và nhập quốc tịch với lý lịch "political refugees".
Sau khi tốt nghiệp đại học nhưng vẫn còn nhiều suy tư và bâng khuâng về lý lịch nhân bản của chính mình, tôi cứ mãi chần chừ không nộp đơn nhập quốc tịch. Một cái gì đó thâm trầm với mặc cảm tội lỗi về sự khước từ bản chất Việt Nam để thay thế bằng một quốc tịch mới khiến cho tôi ngần ngừ mãi cho đến ngày đi làm việc cho hảng Exxon ở Houston TX. Hãng bắt buộc các kỹ sư trong nhóm thiết kế hệ thống computer thâu dữ kiện cho các tàu đi tìm dầu phải có thông hành để ứng biến, có thể bay đến bất kỳ nước nào khi hữu sự, nhằm yễm trợ các chuyến hải hành viễn liên đi tìm dầu rất tốn kém này. Cuối cùng tôi đã làm thủ thục và tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ năm 1981. Ngày đưa tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ tôi chợt nhớ lời của vị thầy tôi trong những lời nhắn nhủ mà tôi hằng nhớ mãi... về câu hỏi thế nào là một công dân tốt...và bao nhiêu năm nay tôi vẫn tự nhủ thầm rằng dù trở thành một công dân Hoa Kỳ tôi vẫn có một tình yêu quê hương Việt Nam sâu thẳm với những giá trị nhân bản tốt đẹp ấy đã hun đúc tôi nên người. Và tôi sẽ không bao giờ quên được nguồn gốc giá trị chính mình.
Khoảng năm 1987 nước Mỹ thời Tổng Thống Bush (cha) đang chuẩn bị tiến quân sang Iraq đánh giặc để giải cứu tiểu quốc Kuwait đang bị Iraq  xâm chiếm. Mọi người khắp nơi đều bàn tán xôn xao về viễn tượng chiến tranh. Vì có tham dự diễn thuyết và thắng một số giải thưởng trong hội Toastmasters International, tôi được một giáo sư trường Đại Học Cal State Long Beach biết đến và mời tôi làm người khách đặc biệt để bàn luận về đề tài Chiến Tranh Việt Nam với các sinh viên năm thứ tư thuộc phân khoa Sử trong lớp của ông. Khi tôi đến lớp thì thấy có khoảng 28-30 sinh viên, cùng với vị giáo sư. Tôi đề nghị mọi người cùng sắp ghế thành một vòng tròn lớn cho thân mật và tự giới thiệu tôi không phải là một sử gia, cũng không có một cái nhìn bao quát và tế nhị để nói về một đề tài chiến tranh khá phức tạp. Tôi chỉ là một chứng nhân, một người đã được sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Những điều tôi sắp nói có thể sẽ là chủ quan vì có cả những niềm ẩn uất đau thương của một con người trong cuộc... Các sinh viên năm thứ tư sắp tốt nghiệp đại học có nhiều kiến thức nên đã đặt ra nhiều câu hỏi rất hay, tiếc là tôi đã bỏ mất cơ hội ghi hết lại những kỹ niệm đặc biệt đó... tôi chỉ nhớ mình đã sung sướng vì có dịp nói lên những uẩn khúc của người Việt Nam... rằng nước Mỹ nếu muốn tham gia bất kỳ 1 trận chiến nào thì nước Mỹ phải suy tính cho cẩn thận... mọi người cùng phải đồng lòng quyết chiến đấu... vì mục đích cuối cùng của chiến tranh phải là chiến thắng... chiến tranh không thể nào được xem như là 1 nước cờ nhằm đi đến giải pháp chính trị, mà phải là ngược lại... biện pháp tối hậu chiến tranh chỉ được dùng tới khi không còn 1 giải ngọai giao nào khác nữa... vì chiến tranh sẽ gây tang thương cho không biết bao nhiêu gia đình bao nhiêu thế hệ...
Nói chung bằng những lời lẽ tuy nhẹ nhàng tôi đã phân tích nhiều điễm sai lầm trong sự tham gia chiến tranh Việt Nam của người Mỹ... Tôi kể họ nghe ngày đến đảo Orote Point (ở Guam) trong khi chờ đợi lãnh cơm, một Trung Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chợt đến hỏi tôi: Hạm Đội Hải Quân Việt Nam có bao nhiêu tàu" Tôi hơi bị bất ngờ, trả lời: Hạm Đội Hải Quân Việt Nam có khoảng 42 chiến hạm lớn nhỏ... Anh ta hỏi tiếp: Thế tại sao các anh thua Việt Cộng... Tôi suy nghỉ và hỏi lại anh: Vậy tổng số chiến hạm Hoa Kỳ là bao nhiêu chiến hạm...anh trả lời: Nhiều quá không thể nào kể hết... Tôi hỏi: Vậy tại sao Hoa Kỳ cũng không thắng được Việt Cộng" Anh ta im lăng, rồi bỏ đi...
Niềm sung sướng của tôi sau buổi nói chuyện ngày hôm đó tại Cal State Long Beach là cái bắt tay rất thân tình của vị giáo sư Sử học và những ánh mắt những nụ cười thông cảm của các sinh viên khi họ ra về.
Những ngày mới lớn ở Việt Nam chúng ta không được ban cho đầy đủ những ân huệ làm người đó. Khi đi học chúng ta phải nghe lời giảng của thầy cô nhiều hơn là được khuyến khích trình bày cảm tưởng. Ngoài đời các quyết định quan trọng quan hệ tới vận mạng quốc gia thường là do một số ít những kẻ cầm quyền thao túng. Các cuộc bầu cử đầy rẫy những trò lường bịp. Một số kẻ cầm quyền thì tham lam. Sức mạnh của cử tri gần như vô nghỉa nên nhiều người rất thờ ơ với công cuộc của đất nước. Đến thời Cộng Sản lại càng tệ hại hơn. Học trò vào lớp học rặc như vẹt những giáo điều, ai hỏi câu gì động chạm đến phân tích lý luận thì cho là phản động. Trại cải tạo chỉ biết nhồi sọ với những điều phi lý. Ngày nay một thiểu số kẻ cầm quyền ở Việt Nam có tài sản hằng tỉ đô la, còn tuyệt đại đa số vẫn lầm than tay làm hàm nhai không một cơ hội thoát ra được cái vòng lẩn quẩn của cảnh cơ hàn.
Nhưng hiện tại đa số là công dân Mỹ chúng ta có quyền nói lên tiếng nói của sức mạnh từ lá phiếu. Ai sẽ nói thay cho bạn" Chính chúng ta cần phải đứng lên, nói lên, nói to lên, trước khi không còn ai khác để nói thay cho chúng ta. Chúng ta cần phải chọn lựa một thái độ thích hợp và bày tỏ quan điểm thích ứng đồng lòng với những tiếng nói khác để có thể biến Nước Mỹ thành một xã hội tốt đẹp hơn. Lý tưởng Tự Do có nghỉa chúng ta cùng sinh sống với các cộng đồng bạn. Bất kỳ bạn bỏ phiếu cho ai, Dân Chủ hay Cộng Hòa, xin hãy theo dõi những phương sách của các ứng cử viên và lựa chọn đúng bằng lá phiếu. Đối với cộng đồng Việt Nam xin hãy lắng nghe và phân biệt bằng lý trí của lẻ phải và hành xử theo công đạo để tránh sự chia rẻ của kẻ thù.
Ngày nay có những nhà tranh đấu cho nhân quyền và tôn giáo trong nước đã thay dân kêu lên những tiếng đau thương khẩn thiết, chúng ta có thể nào để cho các tiếng kêu uẩn ức đó rơi vào quên lảng được chăng " Tiềm lực của chúng ta hiện tại khá mạnh so với những ngày xếp hành lảnh cơm tại trai Orote Point lúc chân ướt chân ráo mới đến Guam chuẩn bị hồ sơ vào nước Mỹ. Và những ân tình, ơn nghỉa với các thương phế binh cựu quân nhân QLVNCH còn ở lại tại Việt Nam, chúng ta có thể nào bỏ qua những lời đau đớn thống khổ của những người từng hi sinh một phần thân thể quyết gìn giử biên cương đó hay không"
Ngày tôi thăm viếng tượng Nữ Thần Tự Do tại Ellis Island gần New York, có những hàng chữ sau đây vẫn còn khắc dưới chân bức tượng ấy:
Hãy giao cho ta những cơ cực, những nghèo khó
Những thân xác thèm khát được hít thở Tự do
Những kẻ bị ruồng rẫy từ các bờ biển lạ
Mang đến đây những kẻ vô gia cư, những con người qua bao bão tố
Ta sẽ nâng chiếc đèn dẫn lối vào cổng vàng
Nếu có người hỏi đến tôi, tôi sẽ không ngần ngại cho biết tôi là một công dân Hoa Kỳ và cũng là một người tị nạn chính trị Việt Nam. Tôi đã may mắn đến được bến bờ Tự Do này khi nước tôi bị Cộng Sản chiếm. Tôi đã bỏ nước ra đi khi không còn chổ để dung thân. Tôi luôn cố gắng trở thành một công dân Hoa Kỳ tốt và luôn cố gắng gìn giử những giá trị tốt đẹp của một người con gốc Việt.Tác giả: Cát Biển

Mối Tình... Câm

Bà Ngà ngồi trên chiếc ghế đong đưa, nhắm mắt tịnh thần. Chuyến đi ba tuần về Việt Nam khiến thân già của bà quá là mệt mỏi, bù lại bà cảm thấy vui vẻ, nhẹ nhàng vì đã làm được gần hết những điều muốn làm trong chuyến đi trối già vừa qua. Bây giờ, ngồi nhớ lại từng cảnh một, lòng bà sao quá đỗi bồi hồi, cảm động...
- Mẹ có sao không" Mẹ cố giữ sức khỏe không thôi lại phải hồi vé máy bay như năm ngoái đó.
- Mẹ không sao! Chỉ bị ho một tý thôi. Mẹ chịu nổi mà!
Bà Ngà vội trả lời cô con gái, người sẽ đưa bà đi về thăm quê hương, chứ đi một mình thì chịu thôi, sợ chết được, chữ anh chữ u nói vớ va vớ vẩn còn được chứ đụng vào giấy tờ thì chịu chết! 
Thật sự bà cảm thấy mệt mỏi vì ba cái bệnh tuổi già đang quấy ta, nhưng bà vẫn phải luôn tự nhủ lòng là mình chịu đựng nổi để có thể lên đường đúng ngày. Bao nhiêu chuyện muốn làm, bao nhiêu người muốn gặp - có thể là lần cuối - bà không có quyền ngã vì cảm cúm, vì cái lạnh đang hành bao nhiêu khớp xương trong thân xác, vì đủ thứ thuốc phải uống mỗi ngày... May là bà được sống ở cái xứ quá đầy đủ thuốc men, bằng như vẫn còn ở Việt Nam, bà không thể tưởng tượng mình sẽ ra sao với bao nhiêu thứ bệnh trong người như bây giờ. 
Cuối cùng, hai mẹ con cũng lên đường đúng ngày và đến nơi bình yên.
Đón mẹ con bà ở phi trường Nội Bài - Hà Nội là hai cô con chồng cùng con, rể, cháu, chắt của các chị. Mọi người mừng rỡ, cười nói vui vẻ khiến lòng bà vô cùng ấm áp cho dù trời Hà Nội đang "rét" buốt đến tận xương. 
Bao nhiêu năm rồi mới nghe lại những chữ tưởng chừng như đã rơi vào quên lãng. Khi gặp lại những khuôn mặt thân thương, bà có quá nhiều điều để kể lể. Khổ nỗi con bệnh không tha cho bà, bà nằm bẹp ở Hà Nội đủ bốn ngày, chẳng đi được đâu lại khiến các chị phải lo săn sóc cho bà. Những điều muốn nói chưa nói đủ, những người muốn gặp vẫn chưa gặp hết. Cảnh cũ với hàng hàng lớp lớp kỷ niệm của Hà Thành vẫn chưa được dịp ngắm lại. Lòng bà quả thật là luyến tiếc, muốn ở thêm cũng không thể ở vì con gái bà đã hoạch định chương trình cho chuyến đi, rồi đúng ngày phải về đi làm lại. 
Cũng may, cô con gái lớn của bà khi gặp chị cả đã quấn quít với nhau, đêm đêm hai chị em lại nằm tỷ tê đến tận khuya mới ngủ. Bà mỉm cười - thế cũng được! 
Ngày thứ tư tại Việt Nam, người cháu rể mướn xe đưa hai mẹ con bà về Hải Phòng - nơi bà lớn lên - thăm lại người xưa chốn cũ. 
Ngôi nhà cũ ở phố Tây Kiều bà ở bao nhiêu năm của tuổi thơ vẫn còn đấy. Khung cửa sổ vẫn như ngày xưa khi bà đứng đó nhìn "người yêu tôi" gẩy mandolin hát tình ca như lời trao gửi cho người chàng thương. Chàng có tình mà nàng vẫn cứ ngây ngô như con Mán rừng thưở hồng hoang. 
Bà ghé lại chụp tấm ảnh với Nhà Băng - nơi ngày xưa bà cùng hai, ba "chàng" đi đổi bạc với nhau - vẫn không có gì thay đổi cho dù đã trải qua hơn sáu mươi năm. Cô con gái hỏi:
- Ngày xưa mẹ thích ai nhất" Tại sao mẹ không để ý đến bác Hợp và các chàng trồng cây si để cuối cùng mẹ lại lấy bố"
- Ngày xưa còn bé có biết gì đâu! Đi đổi bạc chung với nhau, ai cũng là bạn cả! - bà phân trần cùng cô con gái - mẹ có chuyện của mẹ, bác có chuyện của bác. Xong việc rồi về chứ đâu được như các con bây giờ chỉ lo ăn học rồi đi chơi thôi. Mãi đến sau khi có con rồi mẹ mới biết bác có ý với mẹ.
Lang thang một lúc, bà đã đến bến cảng ngày xưa - nơi gia đình bà lên con tầu há mồm vào Nam. 
Ngày đó chàng đứng bên ngoài vẫy tay chào và hẹn sẽ vào Nam tìm lại. Cô em nuôi của bà nửa muốn theo bà, nửa muốn ở lại vì ngại anh rể phải thêm gánh nặng. Lòng bà dấy lên chút xúc động bùi ngùi. Cảnh cũ còn đây, nhưng người thì đã khuất xa. Nhìn lại mình cũng như vợ chàng và cô em kết nghĩa ngày xưa, đầu đã bạc, da đã nhăn. Còn chăng là chút tình xưa nghiã cũ cho nhau. 
Vợ chàng nhắc nhớ:
- Anh kể là lúc tiễn gia đình em, anh không thể ngờ là lần cuối gặp mặt, nên chẳng nói được lời tiễn biệt nào. Nhìn nhau mà không nói, có nói cũng bằng thừa vì em đâu có ý gì với anh.
- Thì khi quen nhau, em còn bé, em chả nghĩ gì cả.
- Thế mới chết người ta. Tại vậy mà anh cứ ôm mối tình đầu câm nín trong lòng thôi. Anh lấy chị, một phần cũng vì tên chị gần giống với tên em đấy! Nga với Ngà chỉ khác nhau có mỗi cái dầu huyền. Anh tâm sự với chị bao nhiều điều trong lòng của anh về em. Chị quý anh và bằng lòng lấy anh vì sự thật thà ấy.
Con bé con chàng chen vào:
- Chuyện bố con đánh đàn, làm thơ cho cô, chúng con đứa nào cũng biết. Bố kể suốt. Ối dào! Chúng con nghe bố kể mà cứ mê mẩn như nghe chuyện cổ tích vậy đấy! Thành thử tuy chưa bao giờ gặp cô, nhưng khi cô tìm lại chốn cũ, hỏi tên bố, con nhận ngay ra là cô chứ không ai khác.
- Khi ấy cô cũng hỏi cầu may thôi. Hơn năm mươi năm chứ ít ỏi gì. May là Hải Phòng không thay đổi nhiều, không thì cô cũng chịu chết.
- Con cũng cám ơn Trời đã cho bố con trước khi qua đời được gặp lại cô - tuy chỉ có một tiếng đồng hồ. Ngày tháng sau khi gặp lại cô, bố con vui lắm, như một người tìm lại báu vật đã mất làm mẹ và chúng con cũng vui theo niềm vui của bố. Cô nhớ bài thơ bố con làm tặng cô trong lễ thọ Bẩy Mươi của cô năm nào không" Chúng con thuộc hết. Mẹ cũng thuộc nữa.
Nói xong con bé vừa đi vừa ngâm nga:
Phố Tây Kiều
Cầu Ca Rông vừa cong vừa mát
Phố Tây Kiều lắm cát dễ đi.
Cô NGÀ bóng bẩy làm chi"
Để cho cậu Hợp tin đi mối về.
Mối tình quá đẹp chẳng ai chê
Cầu Kiều sẵn đó, ánh trăng thề.
Bóng người dưới nước hiện hai
Giữa vòng cầu đứng, mặc ai đi về.

Ví như bẩy sắc cầu vòng
Đầu xanh đôi bóng hát chung lời nguyền.
Bạn tình một dạ chính chuyên
Phượng Loan sẽ đợi nên duyên vợ chồng.
Chờ khi làm lễ Tơ Hồng
Hạnh phúc cùng hưởng, hoa hồng trao tay.
Má nàng đỏ ửng men say
Mắt chàng ngời sáng trong ngày hợp hôn.
Giấc mơ chỉ đến thế thôí!
Vì đâu tan mộng" - tại Trời trớ trêu.
Loạn ly chia rẽ đôi nơi,
Ngậm ngùi số phận, xa xôi nghĩa tình.
Bức tranh thiếu nét chẳng xinh,
Đến đây chấm hết, cuộc tình đôi ta.
Năm mươi năm cũ trôi qua,
Ai ngờ gặp lại như là trong mơ.
Chuyện trò một tiếng đồng hồ, 
Cánh chim bay mất, làm thơ tức đời. 
Mong ai biết chuyện đừng cười,
Hai con Mán ngố thích chơi ném cầu!
Trượt hoài có trúng đích đâu"
Đổ cho tại số: La Hầu, Kế Đô !!!
Đúng là hai con gà tồ,
Vỗ lông xòe cánh ngây ngô tức cười... 

Bài thơ khá dài, sao khi con bé đọc lại thấy ngắn thế không biết. Bà Ngà tủm tỉm cười khi vợ chàng tiếp lời con đọc nốt những vần thơ cuối, sau cùng chị nói:
- Em thấy chưa, đến cả chị cũng còn thuộc nữa là các con!
- Anh thật là... - bà Ngà chữa thẹn.
Bà đi ở giữa, hai tay vòng tay với cô em và vợ chàng. Cả ba cùng im lặng như đang chìm trong dĩ vãng. 
Ngày xưa ấy, khi bà khoảng mười hai mười ba, chàng chừng mười lăm mười sáu gì đó. Hai đứa ở chung nhà, bà ở từng trên, chàng ở từng dưới - giống như kiểu condo bên Mỹ. Bà chơi đùa với em chàng và cô em kết nghĩa, hết đánh chuyền, đánh ô đến chơi chọi gà. Chàng rất chiều các em, thường hái về những chùm hoa Ba Giăng (hoa Phượng) đỏ ối, chùm hoa có nhiều quả to, hạnh phúc khi nhìn chúng vui vẻ với giọng cười giòn dã, bóc quả ra, móc lấy cổ gà ở trong rồi giật sao cho đứt cổ gà để định ăn thua. 
Thưở nhỏ vô tư, bà nào có biết gì đến chuyện tình trai gái. Vừa lên mười, mẹ dắt anh và em bà vào Nam tìm bố đang làm việc trong đó sau khi gửi bà và cô em kế cho bà em dâu nhờ trông nom. Mẹ đi chưa đầy năm, gia cảnh mợ lâm cảnh túng quẩn, đã đưa đẩy bà vào nhà này và được nhận làm con nuôi trong một gia đình có thế giá tại Hải Phòng. 
Bà thích hát, thích nghe những bản nhạc tình êm dịu. Những buổi chiều hè, chàng thường bắc ghế ngồi bên bờ sông vừa hóng mát vừa đánh đàn, bà nghe tiếng đàn lại chạy ra đứng bên cửa sổ nhìn xuống và nghe chàng khẩy đàn...
Nhà hai đứa đều có cửa hàng buôn bán ngoài chợ Sắt, nên cứ hai ngày lại rủ nhau đi ngân hàng Bank Indochine để đổi tiền rách lấy tiền mới... Chỉ có thế thôi vì khi ấy bà còn quá ngây thơ và hay thẹn thùng còn chàng hình như rất là nhút nhát... 
Dòng đời cứ thế mà trôi đi, chàng lên Hà Nội học, loạn lạc khắp nơi, bạn bè xa cách, bà vẫn ởø chốn cũ...l ấy chồng, cho đến khi lên đường vào Nam mới biết tình chàng dành cho bà. Lúc ấy có biết cũng chỉ là những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ bà dành cho một người anh trai. Bà còn nhớ, cũng tại bến cảng này, chàng và cô em kết nghĩa đã đứng đấy cho đến khi bà không còn nhìn thấy gì nữa. 
- Chị biết không, anh Hợp nói với em là khi nào anh vào Nam sẽ dẫn em đi theo tìm chị, cô em kết nghĩa của bà lên tiếng. Thế nhưng ngày qua ngày, họ kiểm soát kỹ quá nên cuối cùng hai anh em chẳng ai đi được. Biết sống xa anh chị mà khổ sở cả đời như thế này, dạo đó em cứ theo anh chị vào Nam có thể cuộc đời của hai mẹ con em đã khá hơn. Mẹ con em sống khổ sở cả hơn bốn mươi năn dài, mãi đến bây giờ, cháu nó đi làm, nhờ Trời được cấp trên thương nâng đỡ, và mấy năm nay được chị giúp đỡ nữa nên mẹ con em mới được thoải mái một chút.
- Anh cũng nói với chị như vậy, vợ chàng tiếp lời. Anh đã tìm đủ cách, đủ phương tiện để đi Nam tìm gia đình em. Anh bảo, lúc ấy anh chỉ nghĩ cho dù em đã có gia đình, nhưng em không hề có tình ý với anh, thì vẫn có thể xem em như tình anh em, nhìn thấy em được hạnh phúc cũng đủ cho anh vui. Chị thương yêu anh nên rất trân trọng mọi kỷ niệm trân qúy của anh. Chị chia xẻ niềm vui và hạnh phúc của anh khi nghe anh nhắc nhớ đến kỷ niệm khắc ghi trong lòng anh suốt đời. Một mối tình... câm thật đẹp và cao thượng. Chị thương anh bao nhiêu, chị qúy mến em bấy nhiêu. Cho đến khi gặp em, chị biết mình đã không sai lầm khi chị và các con dành cho em lòng cảm mến và thương yêu trong tình gia đình.
- Em cám ơn chị và các con - bà cảm động trả lời.
Image result for Winans The Green Mall,
Bà đang mơ màng nhớ cảnh cũ người xưa chợt giật mình khi nghe cô con gái út gọi tìm bà. Con bé đến lạ! Có chồng có con rồi nhưng đi làm về là phải đi tìm mẹ trước. Bà trả lời:
- Mẹ đây! Mệt quá nằm nhắm mắt một tý cho nó khoẻ.
- Hôm nay mẹ nấu gì ăn vậy" Cô nhỏ nũng nịu hỏi mẹ.
- Hôm nay mẹ mệt nên chưa nấu gì cả. 
- Hà há! Con biết rồi. Hôm nay mẹ lại nằm ôn lại chuyện xưa, nhớ chàng phải không"
- Con khỉ ạ. Nhớ gì mà nhớ - bà chống chế - có gì đâu mà nhớ với chẳng nhớ! 
- Thì mẹ nhớ cho vui, có sao đâu. Mai mốt mẹ muốn đi về thăm bác với cô nữa không, con mua vé cho mẹ đi"
- Để tính sau. Tùy vào sức khoẻ của mẹ.
Mấy đứa con của bà cũng quá quắt lắm. Lâu lâu mấy chị em nó hùa nhau vào trêu bà. Nào là:
- Chời ơí! Người ta hữu ý mà mình lại vô tình! Đau lòng anh quá em ơi.
- "Hôm xưa tôi đến nhà em. Ra về mới nhớ rằng quên cây đàn..." Đàn để quên rồi lấy đâu mà ra bờ sống ngồi đánh cho em nghe!!! Hi hi hí!!!
- Người đâu mà vô tình quá chừng chừng. Mẹ làm bao nhiêu chàng ôm tình câm mà miệng cứ phải cười toe toét vì "..khi ấy em còn ngây thơ, đôi mắt chưa hoen lệ sầu..." rồi hả mẹ"...
Bà chỉ còn biết cười trừ trước sự trêu ghẹo của lũ con quỷ quái của bà. 
Nhớ ngày nào vợ chồng bà lếch thếch cùng bẩy đứa con và thằng cháu ngoại qua Mỹ, thật là liều lĩnh. Ba mươi năm trước vợ chồng bà đã lớn tuổi, một chữ tiếng Anh bẻ không ra, không thể đi làm nuôi các con như khi còn bên Việt Nam. Các con bà, ngoại trừ hai đứa bé nhất lúc ấy mới lên sáu và mười hai, đã phải bung ra đời, vừa đi làm vừa đi học. Ông bà ở nhà lo việc nhà giúp các con mà thôi. 
Ba mươi năm sau, các con bà tương đối đều có cuộc sống ổn định và sống quanh quẩn gần nhau. Tuy có buồn cảnh đơn chiếc vì chồng bà đã bỏ đi trước hơn hai mươi năm nay, nhưng bà vẫn cảm thấy rất hạnh phúc bên đàn con lũ cháu. Bà đã không tiếc lời khen chúng với con, cháu của chồng trong chuyến đi vừa qua.
Bà chợt nhớ lại chuyến đi xuống Hà Tiên thăm người cháu chồng sau nhiều năm xa cách. Chuyến đi có bao nhiêu chuyện ngắn chuyện dài để tỷ tê, kể lể cho nhau nghe. Bà xót xa khi thấy cảnh nhà hiện tại không còn như xưa cũng như dấu vết thời gian đã làm hao mòn thân xác người cháu chồng đồng thời là bạn bè năm xưa của bà. Con gái bà và thằng cháu cùng lứa tuổi cũng lời ra lời vào quên cả thời gian. Đến ngày về bịn rịn không muốn chia tay. Ngày gặp nhau quá ngắn ngủi chẳng bõ cho thời gian xa nhau quá dài. Biết làm sao hơn khi mỗi người có một cuộc sống và ở hai phương trời cách biệt. 
Con người khi tuổi càng cao thì kỷ niệm xưa càng sống lại mạnh mẽ hơn. Người già không có hiện tại hoặc tương lai mà chỉ còn quá khứ. Thật lòng, nếu có thể về dưỡng già ở Việt Nam bà sẵn sàng về ngay. Tuy nhiên lòng muốn, nhưng thực tế không thể. Đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang những người không hề có đến một ngày đóng góp cho xứ sở này như bà đã là quá nhân đạo rồi, làm sao mình có thể đòi hỏi họ gửi tiền nuôi mình khi về sống ở nơi mình đã vì lý tưởng tự do mà ra đi! Bà không muốn là gánh nặng cho các con khi về sống tại quê hương với hai bàn tay trắng và không có lợi tức hàng tháng để tự túc. Vả lại, bà không thể xa đàn con lũ cháu... quá đáng yêu của bà. Thôi thì khi nào còn sức thì về, không thì đành phải ngóng về quê cũ mà thôi.
- Mẹ! Mẹ lại mơ rồi hả"
Bà giật mình trở lại thực tại, cười cầu hòa với cô nhỏ:
- Mẹ khỏe rồi. Muốn ăn gì mẹ nấu...
Trần Chi Liên

Nỗi Đau Vẫn Còn Đó

Tác giả từng sống ở trại tỵ nạn PFAC Phi Luật Tân gần mười một năm. Ông tên thật Trần Phương Ngôn, hiện hành nghề Nail tại South Carolina và cũng đang theo học ở trường Trident Technical College. Với bài "Niềm Đau Ơi Ngủ Yên" viết về trại tị nạn Palawan-Philippines, Triều Phong đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

viet ve nuoc My (1)viet ve nuoc My (2)
Người cựu quân nhân và chánh án Frank Caprio lấy từ video ‘Veteran pleads “guilty” to $100 parking violation- but when he gives reason, Judge says 5 words’.Image result for Winans The Green Mall,

Ngày 19 tháng 02 năm 2018 trên Facebook của thành phố Providence ở tiểu bang Rhode Island có đăng tải “video” nói về một phán quyết đầy sự nhân bản của người cầm cân nảy mực đứng đầu tại một tòa án ở thành phố này là ông chánh án “Frank Caprio” khiến mọi người vô cùng cảm động!

Số là vào tháng Năm năm 2016 có một ông cựu quân nhân thời “chiến tranh Việt Nam” bị phạt một trăm đô ở Trung Tâm Y Tế của Hội Chiến Binh tại Providence vì vi phạm chỗ đậu xe.  Khi xuất hiện trong phiên xét xữ, người cựu quân nhân này đồng ý là ông sẵn lòng đóng phạt nhưng ông muốn phân giải rằng tình trạng của chỗ đỗ xe ở bệnh viện; nơi ông một tuần đến khám vài lần để chữa trị các chiến thương, thì rất là “atrocious!”

Sau khi nghe người lính trình bày câu chuyện của mình xong, quan tòa Frank Caprio hứa sẽ bắt buộc bệnh viện xem lại chính sách vi phạm luật đậu xe và ông thêm rằng người cựu chiến binh này không có gì buồn bởi tuy việc vi phạm chỗ đậu xe là một vấn đề nhưng ông không cần phải đóng phạt do đi điều trị những thương tích mà ông đang mang vì đã phục vụ cho đất nước và để cho chuyện xét xữ được công bằng hơn vị quan tòa chỉ muốn nói “năm từ” thôi: THANK YOU FOR YOUR SERVICE!

Có mấy vị chánh án nào xung quanh chúng ta công minh như vị này?  Băng hình kết luận!

Câu chuyện đã lâu nay được đưa lên lại trước tháng Tư là tháng đã kết thúc chiến tranh Việt Nam cách đây bốn mươi ba năm như để tri ân các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam mà tôi tình cờ đọc được làm tôi bồi hồi mãi không thôi khi ngày đến tháng Tư buồn kia mỗi lúc một gần!

Và nó cũng là nguyên nhân làm cho tôi nhớ đến một câu chuyện đau lòng khác đã xảy ra gần chỗ tôi sinh sống rất lâu mà tình cờ bây giờ tôi mới được biết.

Tôi vốn qua Mỹ muộn màng lúc tuổi đã lớn và vì còn cha mẹ già ở quê nhà nên đã phải từ bỏ ước mơ đi học để làm “nails” nuôi thân cũng như lo cho gia đình còn ở Việt Nam lúc định cư từ tiểu bang South Carolina. 

Vài năm sau tôi lập gia đình rồi chuyển về quê vợ ở Ohio sinh sống sau khi chúng tôi có được một thằng con trai năm tuổi.  Tại đây tôi vẫn tiếp tục công việc của mình để mưu sinh và bà Judy là một trong số các người khách “ruột” của tôi.

Bà Judy là người Mỹ trắng, cao ráo, đẹp đẽ, vô cùng lịch sự!  Tuy đã gần bảy mươi tuổi nhưng tướng tá bà còn rất khoẻ mạnh vì bà vẫn đi “Gym” đều đặn mỗi ngày.   Đây chính là điều khiến bà và tôi rất hợp nhau bởi tôi cũng thường xuyên đi tập thể dục để chữa cái cột sống bị chấn thương ở trong “trại lao động cưỡng bức” hồi còn ở bên nhà năm xưa của mình.

Khoảng hai năm sau khi đã khá thân với nhau, một hôm bà hỏi “tôi từ đâu tới?”  Tôi nói cho bà biết lý do vì sao người Việt phải trốn đi bằng đường biển hay đường bộ sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào năm 1975 bất chấp mọi phong ba bão táp, hải tặc hay đói khát hoặc vô số hiểm nguy chết chóc khác luôn rình rập, sự gian nan ba chìm bảy nổi kiếm đường vượt biên của tôi từ cuối năm 1978, nỗi khổ cực bị hành hạ gần sáu năm trong các trai lao động của cộng sản lúc bị bắt và cuối cùng là tình trạng chờ đợi suốt gần mười một năm trời trong tuyệt vọng ở bên trại tỵ nạn lúc đến đảo sau ngày đóng cửa và khi đã bị bác quyền tỵ nạn. 

Từ ngạc nhiên đến thán phục sự kiên trì, quyết tâm tìm tự do để hôm nay có được một đời sống như ước nguyện trên xứ Mỹ của tôi bà cũng kể tôi nghe là bà lấy chồng khá sớm.  Bà có người anh chồng đi lính năm mười chín tuổi, sang Việt Nam tham chiến sau khi cưới vợ được vài tháng, rồi chết trong một trận đánh không lâu sau đó vào năm 1969 mà không hề biết rằng vợ mình ở quê nhà đã có thai. 

Người chị dâu ấy khi đó còn là một cô gái nhỏ, ngây thơ dại khờ, mới chỉ mười tám tuổi. Không biết sẽ sống ra sao trước tương lai mù mịt với đứa con nhỏ sau đó, cô ta đã sợ hãi và đem giao đứa con trai mới sinh cho ông bà nội của nó rồi ra đi biền biệt.
 .

Đứa bé trai đó được ông bà nó đặt tên là Tom, năm nay bốn mươi tám tuổi, hiện đang ở Springfield; một thành phố nhỏ của tiểu bang Ohio.  Nó lớn lên vô tư trong tình yêu thương của ông bà nội mà nó cứ tưởng là cha mẹ cho đến khi bà nó sắp sửa qua đời thì họ mới cho nó biết sự thật.  Quá phẫn uất và đau lòng, từ đó Tom trở nên lầm lì. Đây cũng đúng là thời các cựu quân nhân tham chiến tại Việt Nam trở về đang bị truyền thông trong nước bêu rếu do đó hình ảnh của họ bị xấu xí, bị ruồng bỏ, bị đối xử tệ bạc, danh dự của người lính là “cục xương khó nuốt” do ảnh hưởng của nhóm phản chiến.  Tom không biết sự hy sinh của ba nó có đáng không?  Đúng hay sai?  Nó luôn tự hỏi nhưng không tìm được sự thật cho câu trả lời  ấy khiến càng ngày nó càng thêm bực tức, không muốn nghe và nói đến cuộc chiến tranh này và đó là lý do Tom cũng ghét người Việt Nam!

Câu chuyện đau thương chưa bao giờ được biết của người không cùng màu da chủng tộc nhưng lại gắn liền với số phận bi thảm của đất nước mình khiến tôi mủi lòng.  Ngẩng đầu lên nhìn bà Judy, tôi thắc mắc:

- Thế hài cốt của ông bố của Tom có được mang về Mỹ không?

- Có!  Bà trả lời.

Ông ta được chôn ở Nghĩa Trang Arlington ?

- Không.  Ba má của anh ta quyết định đem hài cốt của con mình về chôn tại nghĩa trang thổ mộ ở quê nhà Springfield, Ohio này nè. Nhưng tên ông ta thì có trên “Bức Tường Đá Đen ở Washington D.C.”*

Bà dứt lời, cả hai rơi vào im lặng một lúc lâu.  Mỗi người theo đuổi một suy tưởng riêng.  Rồi tôi nghĩ tôi nên cho bà biết về những hoạt động hổ trợ lũ lụt, thiên tai của Cộng Đồng Việt Nam trên khắp nước Mỹ trong nhiều năm qua, các buổi nấu ăn, làm từ thiện, phát quà bánh cho người vô gia cư cả Việt lẫn Mỹ ở Cali vào mấy dịp lễ lớn như Christmas hay New Year hoặc chính nhóm chúng tôi năm vừa qua cũng đã đóng góp tài chính để mua các phẩm vật cần thiết như chăn màn, xà bông, tã, kem đánh răng…. cho bệnh viện cựu chiến binh hay cơ quan giúp đỡ người vô gia cư ở Dayton này trong ngày Thanksgiving.

Vì là ngày đầu tuần tiệm vắng khách nên tôi có nhiều thời gian rảnh rỗi, tôi còn nói cho bà hay là ngày nay, bà đã có thể nói cho anh Tom cháu bà là nước My, người Mỹ đã tghấy rõ cuộc chiến chống cộng tại Việt Nam năm xưa là hoàn toàn  có chính nghĩa. Các cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở Việt Nam nay đã được cả chính phủ và người dân coi trọng.  Và tôi cũng ngỏ ý muốn gặp người con bất hạnh chưa một lần biết mặt cha mẹ ấy để chia xẻ nỗi mất mát lớn lao mà anh đã chịu đựng cũng như  cám ơn sự hy sinh của cha anh ta trong việc bảo vệ tự do cho đất nước tôi. 

Bà Judy lấy làm thú vị với mấy câu chuyện tôi nói, hứa sẽ chuyển lời lại cho cháu bà.  Và tôi đã chờ rồi đợi mãi nhưng chỉ nhận được sự im lặng.  Môt thời gian sau, bà  đến làm móng tay và cho biết người cháu trai của bà chưa muốn gặp tôi.  Câu chuyện dừng lại ở đó cho đến hôm nay bỗng nhiên bà bất ngờ dẫn anh ta đến đây khiến tôi vô cùng ngạc nhiên.

Tom ngồi xa xa trên dãy ghế chờ đợi dành cho khách sát với cửa ra vào trong khi tôi làm “deeping powder” cho bà.  Sau khi xong tôi tiển bà ra ngoài, bắt tay anh thật chặt khi bà Judy giới thiệu, nhìn thẳng vào mặt Tom; một người đàn ông trung niên vạm vỡ, to cao, có đôi mắt đẹp nhưng buồn với hai con ngươi màu hạt dẻ, hàm râu quai nón rậm được cắt tỉa cẩn thận. Tôi nghĩ mình sẽ nói với anh ta rằng “người Việt Nam chúng tôi vô cùng biết ơn sự hy sinh của ba anh và xin...”

Vừa nghĩ tới đây, tôi chợt thấy không biết có nên khơi lại niềm đau cô đơn vì cha mất, mẹ bỏ đi của anh ta không? Chắc là không.

Khi nói chuyện với anh,  tôi lái câu chuyện sang đề tài khác bằng cách cho anh hay năm 2017 vừa qua Chính Phủ Mỹ đã ấn định ngày 29 tháng 03 hằng năm là Ngày Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam Toàn Quốc của Hoa Kỳ nhằm vinh danh các người lính đã hy sinh phục vụ cho quốc gia. Tôi cũng kể cho anh ta nghe chuyện ông chánh án  Frank Caprio tỏ lòmng quí trọng người cựu binh ở Việt Nam thế nào. Nghe chuyện, hình như các thớ thịt trên gương mặt của anh co giật bởi bị kíck động còn bà Judy thì vui mừng vì cuối cùng nước Mỹ cũng trả lại danh dự cho những người như cha anh.

- Tôi mong muốn được viếng mộ ba anh một ngày nào đó nếu anh cho phép.  Tôi nói tiếp với anh.

Tom hít một hơi thật dài, cảm kích trước những gì tôi nói và đáp:

- Maybe!
Image result for Winans The Green Mall,
Nhìn theo bóng dáng họ khuất sau khi quẹo qua tiệm cà phê Winans trong The Green Mall, tôi nghe bâng khuâng cõi lòng và tự nhủ mkình sẽ  liên lạc với Tom  để có thể viếng mộ và tri ân người cha của Tom.

Cuộc chiến tranh nào cũng để lại lắm mất mát cho nhiều người từ mọi phía! Riêng  cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng xem ra vẫn còn đâu đó nhiều nỗi buồn không nguôi!

Dayton-Ohio, 30/04/2018

Triều Phong (TPN)