Sunday, April 30, 2017

Bài viết hay(4857)

Giá như Trump đừng quá kiêu ngạo, chủ quan tự mãn mà đối đầu với hệ thống truyền thông của Mỹ thì chắc chắn kết quả 100 ngày đầu tiên làm TT Mỹ sẽ được ca ngợi hết sức. Tui rút kinh nghiệm từ tonton Thiệu từ thời VNCH nên đâu có dám đối đầu với hệ thống truyền thông của ngưới Việt ở Bolsa khi mà họ có tờ báo, cái đài trong tay là họ tha hồ làm mưa làm gió. Họ chỉ sợ VC. Báo chí đã từng tiếp tay cho VC quậy phá miền Nam VN suốt những năm chiến tranh, đã xúi giục SVHS, tu sĩ, nhà báo xuống đường chống phá chính quyền. Cũng báo chí đã làm tay sai cho Mỹ trong cái chết của 2 ông Diệm và Nhu khi liên tiếp kích động quần chúng (nhất là Phật tử) nổi dậy từ Saigon ra Huế. Trump ghét báo chí nhưng Trump cũng miệng lưỡi không kém khi sử dụng twitter để phản pháo liên tục. Trận chiến giữa Trump và truyền thông cho thấy cái tính khí cao bồi của trump và sự thách thức của truyền thông. Nước Mỹ chia rẻ nhiều hơn so với thời kỳ Obama. Bolsa cũng có một ông già chuyên viết báo bênh trump, chửi Obama và truyền thông Mỹ. mục đích của ông ta là gì? Kiếm tí tiền còm? Làm thuê cho đảng CH hay cho CS? Tại sao ông ta luôn kích động dân Bolsa chống DC, phò CH thay vì đoàn kết nước Mỹ? Thử đặt lại vấn đề xem chủ đích của ông ta là gì để thấy mặt trái của những bài viết không thuần túy về kinh tế mà ẩn chứa chủ đích đào sâu mâu thuẫn, gây chia rẻ nước Mỹ; ít ra là Bolsa.

Văn Hóa Việt Còn, Nước Việt Còn

Học giả Phạm Quỳnh trong thời Pháp thuộc người Việt phải học, dùng tiếng Pháp như chuyển ngữ (vehicle language/ langue véhicule) như tiếng Anh tại Mỹ, vẫn nói một câu để đời: “Tiếng Việt còn, người Việt còn”. Bốn triệu rưỡi người Việt di tản khỏi nước nhà VN, đa số định cư tại nhiều nước cách nước nhà nửa vòng Trái Đất, trong lòng văn minh Tây Phương, năm nay đã hơn 41 năm mà còn giữ cội nguồn, chẳng những bảo tồn tiếng Việt mà còn bảo tồn văn hoá Việt gồm nhiều yếu tố hơn tiếng Việt nữa. Chắc học giả Phạm Quỳnh bên kia thế giới thấy thành công này sẽ tấm tắt khen ngợi người Việt hải ngoại là con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần.

Biểu tượng đầu tiên là chánh trị, văn hoá, xã hội người Việt hải ngoại cố gắng bảo tồn và đã thành công một cách khôn khéo, là giương cao quốc kỳ VN, nền vàng ba sọc đỏ ở hải ngoại. Nếu thời sơ khai, kinh tế săn băn, hái lượm, con người sống thành bộ lạc, chọn vật tổ (totem) là biểu tượng của bộ lạc, thì thời đại văn minh quốc gia đô thị, quốc gia dân tộc con người chọn quốc kỳ là biểu tượng của quốc gia. Quốc kỳ được tôn vinh trở thành thiêng liêng đến mức các nhà xã hội học xem gần như tôn giáo (quasi -religious). Và người Việt Hải ngoại đã khéo léo, tương kế tựu kế làm được điều đó đối với tập thể sống chung và đối với cư dân địa phương nơi định cư. Vì người Việt Hải ngoại, quốc gia cũ đã không còn pháp nhân công pháp, chưa có chánh quyền, chưa giành lại được lãnh thổ, mất thế công pháp quốc tế ngoại giao, nên vận động chánh quyền sở tại thừa nhận Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng Tự do, Dân Chủ của người Việt Hải ngoại. Điểm xuất phát từ Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster và từ đó và từ ấy biến thành phong trào lan toả ra cả chục tiểu bang và hàng trăm thành phố, quân hạt Mỹ, và bắt đầu vượt đại dương sang Úc Châu, lên Canada. Người dân Mỹ ủng hộ đem treo lên đỉnh Everest cao nhứt của dãy núi thiêng Hymalaya, nóc nhà của thế giới. Quân nhân Mỹ gốc Việt đưọc đơn vị quân đội Mỹ ủng hộ cho treo ở Chiến trường Iraq, ngày Lễ Lao động Mỹ và 30 tháng tư 2005.

Biểu tượng căn bản, thiết yếu nhứt và quan trọng nhứt là ngôn ngữ, tiếng Việt. Ngôn ngữ giúp cho người cùng văn hoá thông cảm nhau và giúp cho thế hệ này truyền đạt văn hoá cho thế hệ sau. Sở dĩ phải dông dài phân tích ý nghĩa xã hội học về ngôn ngữ, là để làm nổi bật công trình khó khăn bảo tồn tiếng Việt. Khó vì người Việt tỵ nạn CS đang định cư ở trong lòng văn minh Tây Phương ngôn ngữ hoàn toàn khác lạ. Tây Phương đa âm, VN đơn âm. Khó vì tiếp nối, bảo tồn tiếng nói liên tục theo điệu người Việt Quốc gia đã xài từ khi Hà nội mất, Saigon mất vào tay CS. Nhưng với quyết tâm sắt đá, riêng tại Mỹ quốc gia người Việt định cư đông nhứt, tại các vùng người Việt quần cư như California, Texas tiếng Việt được thừa nhận như một sinh ngữ thứ hai, có lớp dạy từ ở đại học nổi tiếng như UC Berkley và trường nhỏ như Bolsa Grande.

Văn hoá phẩm viết bằng tiếng Việt số lượng đầu sách báo lớn và nhiều làm ngạc nhiên nhiều sắc tộc gốc Á Châu như Trung Hoa, Nhựt bổn, và Phi luật Tân ngạc nhiên. Truyền thông đại chúng tiếng Việt Hải ngoại sung mãn, cộng đồng người Việt nào cũng có. Truyền thanh, truyền hình, báo chí lên vệ tinh loan truyền khắp thế giới, đầy tràn xa lộ thông tin Internet. Chẳng những thế, người Việt hải ngoại còn nỗ lực dùng ngôn ngữ để truyền đạt văn hoá cho các thế hệ mai sau. Nhiều tờ báo, nhiều cơ sở tôn giáo, hội đoàn mở hết lớp dạy tiếng Việt này đến lớp khác.

Nhưng có một đặc điểm chung, một đồng thuận mặc thị, là không dùng những sách học vần, tập đọc, lịch sử do các Toà Đại sứ Việt Cộng len lỏi đưa vào, cho không. Còn trong ngôn ngữ viết và nói, tránh không dùng những chữ CS Hà nội du nhập vào Miền Nam. Những chữ thường dùng như chữ “đồng tình” của CS thay cho chữ đồng ý của Miền Nam, những chữ chánh trị như “sơ tán” (sétaner), “sô vanh” (chauvin) bắt chước của Pháp, hay “hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, xã hội chủ nghĩa”, bắt chước của Tàu Cộng, người Việt Hải ngoại dùng để chê cười CSVN, chớ không phải để nói chuyện bình thường.

Những biểu tượng kế tiếp là các phong tục, lễ hội truyền thống đều được gìn giữ và kỷ niệm long trọng. Gia đình VN như cây tre bứng gốc từ bên kia đông bán cầu sang tây bán cầu, từ miền nhiệt đới sang ôn đới, từ ở bển là đêm sang bên này là ngày, nhưng gia đình VN vẫn sống mạnh, sống hùng. Tinh thần gia đình VN, sự gắn bó của gia đình VN đã giúp cho lớp trẻ người Việt tốt nghiệp đại học tỷ lệ ngang người Mỹ Trắng, giúp cho người Việt là sắc dân mua nhà tỷ lệ cao dù mới chân ướt chân ráo, giúp cho tiểu thương do người Việt làm chủ phát triển nhanh và mạnh nhứt ở Mỹ. Món phở VN được Mỹ hoá thành “pho” của Mỹ; món chả giò VN là món ít khi thiếu trong các cuộc tiếp tân ngoại giao Mỹ. Tỷ lệ ly dị vợ chồng, và bạo hành gia đình, bạo hành đường phố của người Việt Hải ngoại tại Mỹ rất thấp trong các sắc dân thiểu số.

Trong môi trường hoàn toàn tự do, tất yếu các hội đoàn, đảng phái lịch sử, và các cộng đồng non trẻ người Việt hải ngoại có khi phân hoá, bất hoà. Nhưng mẫu số chung VN vẫn còn. Tết nhứt, lễ Bà Trưng, Bà Triệu, vua Quang Trung, Tổ Hùng Vương, Đức Thánh Trần phe này hay phái kia, dù không thuận nhau đều tổ chức, không ai nỡ lòng nào bỏ qua. Công cuộc chống Cộng tuy có khác nhau về cách làm, nhưng cùng cứu cánh là đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào trong nước, như các tôn giáo dù khác tín lý nhưng vẫn đấu tranh cho tự do tôn giáo.

Nói tóm trong hơn 41 năm đoạn đầu của cuộc hành trình tìm tự do, người Việt Hải ngoại đã tự tạo gần đủ điều kiện bằng việc làm tạo thành sự kiện – ngôn ngữ, biểu tượng, lối sống, kinh tế – những điều kiện cần và đủ để thành một Việt Nam hải ngoại, kiểu Đài Loan đối với Trung Cộng.
Nhưng hành trình chưa chấm dứt vì chưa đạt mục tiêu là giúp đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào trong nước, bằng cách quốc tế vận và đấu tranh giải trừ chế độ CS độc tài đang trị toàn diện trong nước. Nhiều dấu chỉ cho thấy lớp trẻ thế hệ một rưỡi, hai và ba đang kề vai vào gánh vác công cuộc đấu tranh chống CSVN. Hành động CSVN thần phục TC, thông đồng với TC để cho TC xâm chiến biển đảo VN, cấm dân chúng VN biểu tình bày tỏ lòng yêu nước chống quân Tàu Cộng xâm lăng, gây ô nhiễm môi sinh VN, biến cuộc đấu tranh của người dân Việt trong ngoài nước trở thành cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện chống CSVN và CS Trung Quốc. Cuộc đấu tranh chống CS toàn diện của toàn dân chúng VN nay đã từ điểm chuyển thành diện, từ phẩm sang lượng, đã trở thành một qui trình không thế đảo ngược được nữa. Đó là dấu ấn của tình hình VN trong đầu năm 42 của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu và của Quốc Hận thứ 42./.(Vi Anh)

CS Biến VN Thành Bãi Rác

Tin RFA từ Mỹ, “Việt Nam tìm cách nâng cao ý thức du khách Việt khi đi tham quan nước ngoài bằng những biện pháp đang được xem xét, trong đó không loại trừ khả năng người phạm tội ăn cắp hay chửi bậy có thể bị cấm xuất cảnh.”

Tin báo chí trong nước, “Theo Ban quản lý cửa khẩu quốc tế Móng Cái, lượng khách Trung Quốc vào Quảng Ninh tăng cao từ sau Tết Nguyên đán, khoảng 5.000 người/ngày.”

CSVN là chế độ thống trị đất nước và nhân dân VN nhưng lệ thuộc sâu nặng kinh tế, chánh trị, văn hoá của TC. Nên không những Đảng Nhà Nước và nhân dân TC mà Đảng Nhà Nước CSVN đã, đang biến VNCS thành bãi rác độc hại về văn hoá lẫn môi sinh.

Một, về phía TC, du khách TC có cái tật khạt nhổ bất cứ lúc nào, tè nước tiểu ở góc đường, ăn mặc bừa bãi vào nơi thờ phượng, hành động nghênh ngang coi đất nước VN là chư hầu của TC, coi dân tộc Việt là “ô nàm nán” (người an nam xấu) như thời Tướng Tàu Mã Viện đô hộ VN. Họ qua VN nói xí xô xí xào, ăn uống húp nghe rồn rột, ợ nghe òn ọt, liệng xương dưới bàn, phành bụng mỡ ra quạt “thoải mái” theo thói quen biến thành bản chất thứ hai của đa số người Tàu khi xưa. Bây giờ TC đã “tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” thành Trung Quốc cộng sản hay Trung Cộng, dân số lên một ngàn ba trăm triệu người hay 1 tỷ 300 triệu được làm kinh tế toàn cầu. Nên theo luật cơ học, những thói xấu do Tổ Tiên người Tàu xấu xí truyền tử lưu tôn nhân lên về số người và sự bành trướng địa lý, làm khổ, làm dơ, làm hại không ít những quốc gia dân tộc mở cửa cho đầu tư và người của TC vào. Biến du khách TC thành những người Hoa thêm xấu xí đến đỗi có lần một phó Thủ Tướng TC phải kêu trời, kêu gọi sửa chữa. Tây Âu, Bắc Mỹ e ngại du khách TC, lo ngại nạn “hoàng hoạ” tái diễn.

Về địa lý chánh trị TC biến những cơ sở, khu vực họ đầu tư sản xuất kinh doanh ở VN thành nhượng địa của Thiên Triều, thành phố, xóm làng của TC ngay trong lòng quốc gia dân tộc VN. Họ tự tiện đưa công nhân TQ, vật dụng nhỏ nhặt như cái bàn cầu tiêu cũng made in China qua, rào rấp bên ngoài, không cho người Việt vào. Đảng Nhà Nước CSVN không biết hiện thời có bao nhiêu người TQ đang ở trong nước VNCS.

Còn về môi sinh người TQ biến VN thành bãi rác kỹ nghệ, tàn phá môi sinh VN. Khi sản xuất, họ thải khí thải, nước thải, cặn bã độc hại người dân Việt hết chịu nổi. Dân chúng VN phải biểu tình cả năm, hàng chục ngàn người. Tiêu biểu như vụ Formosa ở bốn tỉnh Miền Trung, cá chết trắng bờ, biển chết, ngư dân đói khổ.

Còn ở Miền Nam Đảng Nhà Nước CS trung ương và địa phương tỉnh Hậu Giang và Thành phố Cần thơ nhận tiền hối lộ của người Tàu lập Nhà máy Lee & Man làm giấy, mỗi năm xả xuống sông Hậu giang 28.000 tấn soude ăn da. Coi như giết dòng sông Hậu và độc chất lan toả khắp hệ thống kinh rạch và sông ngòi Miền Tây. Cá nước ngọt, đen trắng dưới sông, trong đồng đều lâm nguy. Cá vùng nước lợ và cận duyên cũng chết tiêu luôn. Dân Miền Tây ở nông thôn múc nước sông, lên lóng phèn uống. Nước sông có chất soude ăn da thì miệng lưỡi, bao tử, ruột gan con người nào chịu nổi.

Trên vùng Cao Nguyên, tỉnh Bình Phước, Công ty Đài Loan vứt hàng trăm xác heo chết ra sông Sài Gòn.. Xác heo đang phân hủy, bốc mùi hôi thối, ruồi nhặng bâu đầy. Dân chúng trong vùng cho biết đầu tháng 7, họ phát hiện rất nhiều cá, cỡ từ 2 ngón tay đến 3 ký, chết nổi dày đặc ở gần khu vực trang trại heo. Trong đó nhiều nhất là cá trắng, mè, rô phi, trê.

Hai, về phía CSVN, CS sau khi cưỡng chiếm được Miền Bắc, Miền Nam, họ đều cào bằng văn hóa của người Việt Quốc gia, thay vào đó lối sống của người CS nặng tính đấu tranh giai cấp và ảnh hưởng của đồng chí TC. Người Bắc, Trung, Nam gì trong thời CSVN đều bị lây nhiễm tật xấu này, giọng the thé khó nghe, nói rất nhanh như cướp lời người khác. Chữ dùng của người CS nhiều chữ giống chữ Tàu như “hồ hởi, phấn khởi, nhứt trí, đồng tình, bức xúc” và nhiều chữ giống nhưng nghĩa hoàn toàn khác như “vô tư CS có nghĩa là không cần suy nghĩ, “vô tư vượt đèn đỏ” trong khi nghĩa truyền thống của người Việt Quốc gia vô tư là “ở giữa không nghiêng về phía nào.” Còn thái độ tác phong cộng sản thích bon chen, tỏ ra hơn người ngay trong vụ xếp hàng.

Về ăn uống, một phạm trù của văn hoá Việt, thì phải kêu trời ngó xuống mà coi thời CS. Trong nước VN thời CS hàng gian, hàng giả, hàng hư, thúi, độc của TC tràn ngập khắp chợ, cùng quê. Thức ăn là nguyên nhân của 30% bịnh ung thư. Chất độc hại đến sức khỏe con người chiếm từ 30 đến 60%, theo mẫu đi lấy “đột xuất” ở các chợ về kiểm nghiệm. 25% rau quả của Trung Cộng bán tràn ngập ở VN, chứa hoá chất bảo quản vượt mức cho phép. Cục Thú Y báo cáo chỉ có thể kiểm soát được khoảng dưới 50% số thịt phân phối trên thị trường. Thịt heo gạo, thịt bị nhiễm trùng bịnh than, bịnh tụ huyết, thịt bị lở miệng sứt móng bán đầy chợ. Chính người tiêu thụ, dân chúng giới tiêu thụ là lãnh đủ.

Đảng Nhà Nước thả ga cho dân nhậu nhẹt. Tin quốc tế cho biết người dân Việt Nam tiêu thụ khoảng ba tỷ lít bia mỗi năm, đứng thứ ba châu Á và thứ nhất Đông Nam Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc dân số đông hơn VN. Trong 10 năm qua, tỷ lệ người uống bia ở Việt Nam tăng 200%. Tết rồi thủ đô của CHXHCN VN nhậu bia rượu ước độ 200 triệu lít, chưa nói rượu. Saigon khoảng 40 triệu lít bia và 45 triệu lít nước giải khát/tháng Tết, tăng 30 – 50% so với tháng thường. Ô. Phuong Nam Nguyen viên chức Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở VN cho biết một phần tư nam giới đang tiêu thụ bia ở mức "gây nguy hiểm", tức là trên 6 ly một lần, theo nghiên cứu của WHO. Theo một nghiên cứu của chính phủ VNCS, 60% các vụ bạo hành gia đình ở Việt Nam có liên quan đến bia rượu. Bên cạnh đó, việc tiêu thụ bia rượu quá mức còn dẫn tới sự gia tăng của các loại bệnh nguy hiểm như ung thư, xơ gan, tiểu đường, cao áp huyết và các bịnh về tim mạch nữa.

Hàng quán thì một số ỷ đắc sanh tật “bún mắng cháo chửi”.

Về môi sinh, xây cất bừa bãi đường sá thành phố lớn, như Saigon, Hà Nội mưa lớn một chút là thành sông. Còn ngoài biển, trên sông, đất địa của VN thì Đảng Nhà Nước CSVN và CS Trung Quốc đã biến VN thành bãi rác độc.

Ba và sau cùng, đến đây có người thích tiếu lâm nói người dân Việt phải “noi gương Tổng Trọng, Tổng bí thư Đảng CSVN cứ ngậm miệng ăn tiền. Chớ đừng đòi đất, đòi biển Anh Ba Tàu khổng lồ đã xâm chiếm và đòi thoát Trung, là chọc giận Anh Ba Tàu, Ảnh nổi khùng lên, Ảnh phun nước miếng qua VN, thì VN sẽ bị ngập lụt, chỉ còn có cách lên núi mà ở thôi.

Đã quá đủ hành động của hai chế độ CSTQ và CSVN biến giang sơn gấm vóc của quốc gia dân tộc VN thành bãi rác chứa thói hư tật xấu, chất thải độc hại của họ./.Vi Anh

Cộng sản Việt Nam hiện nay có tính chính danh?

Chúng ta thừa nhận người Cộng sản đã xác lập tính chính danh rất tốt trong cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, ngày hôm nay họ không còn làm tốt được như vậy.


Chính danh là gì?

Chính danh tức là xác lập một một vị trí, vai trò của mình trong xã hội và hành xử đúng với vai trò, vị trí đó. Hiểu theo nghĩa Khổng tử thì, vua ra vua, thần ra thần, vợ ra vợ, chồng ra chồng.
Hiểu nôm na, mọi sự tồn tại trong cuộc sống này đều phải mang một lý do, ý chí chủ quan nhất định. Trả lời được câu hỏi đó, và nhận được sự ủng hộ tức là đã xác định được tính chính danh.
Năm 1407, sau khi nhà Minh bắt được gia tộc họ Hồ Quý Ly, chính thức đặt nước ta vào vòng đô hộ, đặt ra hàng trăm chính sách thuế má vô lý nhằm bóc lột tài nguyên - con người. Chín năm sau, Nguyễn Trãi trốn khỏi Đông Quan, dâng Bình Ngô sách cho Lê Lợi ở Thanh Hóa, cùng bàn nhau chống Minh cứu nước. Nhưng lúc đó, lòng dân còn phân tán, muốn làm cho mọi người tin tưởng vào nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trãi sai người lấy mỡ viết vào lá cây trên rừng tám chữ: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” (tức Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi), sau kiến ăn mỡ khoét lá rỗng thành chữ, lá rụng trôi theo dòng nước đến khắp mọi nơi. Mọi người cho là “ ý Trời” thương dân mượn tay Lê Lợi nên một lòng theo minh quân chống giặc.
Giai thoại này mở đầu cho việc xác lập tính chính danh trong cuộc chiến chống quân Minh, và đưa Lê Lợi lên làm vua sau đó.
Việc có chính danh là quan trọng để chứng minh sự tồn tại và thực hiện các hành vi xã hội. Cụ thể, ông Nguyễn Phú Trọng là Tổng Bí thư thì ông mới có quyền đứng lên phê bình tất cả mọi đảng viên cũng như đứng đầu quân ủy Trung ương. Ông Nguyễn Xuân Phúc phải là Thủ tướng thì ông ấy mới thể là người đứng đầu bộ máy Chính phủ. Hay anh phải có thẻ chứng minh Công an Nhân dân thì anh mới có quyền hạn hành xử như một công an.
Điều đó có nghĩa là, chính danh cho phép một người được làm gì và không được làm gì trong xã hội này, có những đặc quyền - đặc lợi riêng biệt nào đó mà toàn bộ xã hội đều phải chấp nhận điều đó như một quy ước.

Chính danh trong chiến tranh Việt Nam có hay không?

Xét về mọi góc độ, cả phía Việt Nam Cộng hòa lẫn phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều có tính chính danh về mặt lý thuyết nhà nước. Miền Nam vào năm 1955 tổ chức trưng cầu dân ý, người dân quyết định truất phế Bảo Đại, thành lập chế độ Cộng hòa, bầu Ngô Đình Diệm làm Tổng thống đầu tiên,và nhiệm vụ họ là ngăn cản làn sóng đỏ xâm nhập phía Nam; trong khi người dân miền Bắc ủng hộ người Cộng sản mang tên Hồ Chí Minh, tán đồng VNDCCH là một nước XHCN, và nhiệm vụ là đưa cả Việt Nam đi theo con đường đó.
Tất nhiên, dựa trên tính chính danh đó, mỗi quốc gia sẽ đề ra mục tiêu, kế hoạch để phát triển và thực thi vai trò, nhiệm vụ của mình. Bao gồm: chiến tranh, đấu tranh nghị trường - pháp lý, đấu tranh kinh tế - văn hóa,… với sự ủng hộ của người dân lẫn cộng đồng quốc tế bên ngoài.
Sự kiện năm 1975 là kết quả chính danh của quan điểm, mục tiêu: thống nhất Tổ quốc, tiến lên CNXH. Tất nhiên, lần này phần thắng thuộc về những người Cộng sản.

Chính danh chấm dứt khi nào?

Chính danh chấm dứt khi và chỉ khi những mục tiêu, vai trò giúp tạo nên yếu tố chính danh đã không còn hoặc chệch hướng. Và khi đó, người dân - vốn là chủ thể trao sự chính danh, sẽ lại một lần nữa tước bỏ sự chính danh đó. Lấy ví dụ như sự viện trợ về quân lính quá lâu của Mỹ đã khiến cho miền Nam mất đi tính chính danh, lúc này họ trở thành một nhà nước kế tục của Mỹ thay vì của người Việt. Bản thân ông Tổng thống Ngô Đình Diệm lúc đấy cũng nhận thức được điều này, nên giai đoạn 1955-1960 ông liên tục phản đối sự có mặt của: cố vấn Mỹ trong Chính phủ và hệ thống cơ sở; quân Mỹ tại Việt Nam. Và đứng giữa lựa chọn bắt tay với Hà Nội để xây dựng Chính phủ Quốc gia hay lệ thuộc Mỹ thì ông chọn Hà Nội.
Sự kiện 1975 khi tướng tá VNCH rút ra nước ngoài một lần nữa tước đoạt tính chính danh của chủ thể nhà nước này, khi nó cho người dân thấy, hệ hệ thống chính trị này không còn phù hợp với tình trạng xã hội lúc đó.
Như vậy, tính chính danh chấm dứt khi niềm tin của người dân sụp giảm hoặc hoàn toàn biến mất.

Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay có tính chính danh?

Chúng ta thừa nhận người Cộng sản đã xác lập tính chính danh rất tốt trong cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, ngày hôm nay họ không còn làm tốt được như vậy.
Đầu tiên, “đi lên XHCN” trở thành một khái niệm mơ hồ, trừu tượng ngay với chính người đứng đầu ĐCSVN là ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và những nhân vật cộm cán khác trong Chính phủ. Chưa có mô hình nào thực sự đi lên XHCN nguyên gốc mà không phủ màu sắc TBCN, ngay cả đối với Trung Quốc, Việt Nam. Riêng Venezuela - họ đi lên và họ đã đang bị sụp đổ bởi cuộc biểu tình.
Thứ hai, Hiến pháp quy định Quyền con người một cách đầy đủ. Tuy nhiên, thực tế lại đối nghịch khi quyền tự do bầu cử - ứng cử - tự do biểu tình - lập hội - tự do ngôn luận bị hạn chế. Nhà nước không cho phép ra báo tư nhân, tiếp tục hoãn ra Luật về Hội và Luật biểu tình và giữ vững nguyên tắc “đảng cử dân bầu” - những cánh xương sống trong Quyền con người.
Hai điều trên khiến cho tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam tiếp tục rơi vào khủng hoảng về mặt đường lối. Quan điểm làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, công bằng là sáo rỗng trong thực tế - với tham nhũng, lạm dụng quyền lực, tước đoạt đất đai đang ngày xảy ra trầm trọng.
Niềm tin người dân đối với bộ máy nhà nước, đối với nhân viên hành pháp như Công an, lập pháp như Quốc hội, tư pháp như Chính phủ qua các vụ Cây xanh 2015, Formosa 2016 đã tụt giảm mức thấp nhất.
Tính chính danh chưa biến mất, nhưng dần dần bị hủy hoại.Mẫn Nhi

Việt Nam thiệt thòi nhiều nhất nếu có COC

Trung Quốc sẽ không cho phép Việt Nam hoặc bất cứ quốc gia nào khác được an nhiên đưa tàu thuyền tới gần quần đảo Hoàng Sa mà không gặp sự cố.

Các nhà lãnh đạo của 10 nước Đông Nam Á họp mặt trong tuần này, có thể bàn về việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết vụ tranh chấp ở Biển Đông. Bốn nước tuyên bố chủ quyền tại vùng biển giàu tài nguyên này, trong khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên hầu hết diện tích Biển Đông lên tới 3,5 triệu km vuông. Việc thảo luận vấn đề Biển Đông tại thời điểm này và trong suốt năm nay giữa các nhà lãnh đạo của ASEAN có thể dẫn đến một bộ Quy tắc Ứng xử trên biển vào tháng 6 tới, và sẽ được chấn chỉnh lại trong năm 2018 hoặc sớm hơn.
Bộ Quy tắc Ứng xử (COC), một tập hợp các quy tắc nhằm tránh rủi ro trên các vùng biển đang tranh chấp - là môt mục tiêu chưa đạt được bởi các nước Châu Á từ khi các nước ký một Tuyên bố sơ khởi về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) vào năm 2002, để khởi động tiến trình đàm phán hầu đi đến một bộ Quy tắc Ứng xử trên biển.
Nhưng một khi đã đạt được thỏa thuận, Việt Nam sẽ là nước chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Việt Nam, nước thành viên ASEAN có những tuyên bố chủ quyền trên một vùng rộng lớn ở Biển Đông, muốn có một bộ Quy tắc Ứng xử bao trọn quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên Trung Quốc đang kiểm soát 130 đảo và bãi đá ở quần đảo Hoàng Sa kể từ sau trận hải chiến ngắn ngủi với Việt Nam Cộng hoà hồi năm 1974. Việt Nam ngày nay vẫn tuyên bố chủ quyền trên những đá, đảo đã mất của miền Nam Việt Nam vào tay Trung Quốc.
Trung Quốc sẽ không cho phép Việt Nam hoặc bất cứ quốc gia nào khác được an nhiên đưa tàu thuyền tới gần quần đảo Hoàng Sa mà không gặp sự cố, điều đó có nghĩa là Trung Quốc sẽ phản đối bất kỳ quy tắc ứng xử nào hàm ý cho phép một quốc gia khác lui tới các bãi đá ngầm, đảo san hô hay các vùng biển nhiệt đới xung quanh quần đảo này. Trung Quốc đã ngăn chặn một bộ Quy tắc Ứng xử trên biển trong sáu năm qua bởi vì họ lo sợ bộ quy tắc này sẽ ảnh hưởng tới quyền kiểm soát của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tiến sĩ Carl Thayer, Giáo sư Danh dự giảng dậy môn chính trị học tại Đại học New South Wales, Australia, nói:
“Không ai có thể bắt buộc Trung Quốc phải rời khỏi quần đảo Hoàng Sa. Điều tối đa mà phần lớn các bạn ở đây có thể hy vọng là nếu Việt Nam khởi kiện ra tòa án trọng tài, chẳng hạn như gửi kiến nghị tới tòa án quốc tế ở La Haye”.
Việt Nam đang cố gắng tự cải thiện quan hệ với Trung Quốc, bất chấp đã trải qua nhiều thế kỷ tranh chấp đất đai và biển đảo với Trung Quốc. Thái độ bài Trung Quốc vẫn sôi sục trong lòng dân Việt Nam, nhưng Hà Nội đang thảo luận với Bắc Kinh ngoài khuôn khổ ASEAN về vấn đề tranh chấp hàng hải trong khi vẫn muốn hưởng những lợi ích kinh tế như nhập khẩu hàng hóa giá rẻ và thu lợi từ khách du lịch Trung Quốc.
Trung Quốc cuối cùng có thể phải đối mặt với áp lực từ chính phủ Hoa Kỳ về những hành động bành trướng hàng hải trong suốt thập niên qua: kể cả xây dựng các đảo nhân tạo, sẵn sàng đón máy bay chiến đấu và các hệ thống radar.

Bài viết hay(4856)

Một trong những cái dở nhất của ngành văn hoá - giáo dục VC là không dạy cho người VN trẻ sinh ra và lớn lên dưới chế độ CSVN biết nói "cám ơn"và "xin lỗi" nên từ thằng Tổng bí thư cho đến đứa học trò mẫu giáo đã không biết nói "cám ơn"và "xin lỗi". Giá như họ biết nói "cám ơn"và "xin lỗi" thì có lẽ VN sẽ khá hơn rất nhiều. Có lẽ chúng ta cứ mơ thành vua Quang Trung, hoá rồng hoá hổ mà quên mất chuyện làm sao để trở thành một con người có ý thức tự giác hơn, cư xử có văn hoá, có giáo dục đàng hoàng tử tế hơn. 42 năm qua, chưa có một thằng lãnh tụ CSVN nào biết nói "cám ơn"và "xin lỗi" nên làm sao nói đến 2 chữ "thống nhất" hay "đoàn kết" dân tộc. Ngay cả những ông tướng, ông chính phủ VNCH còn sống ở hải ngoại cũng chẳng biết "xin lỗi" người dân miền Nam VN, người lính VNCH mà cứ ngụy biện, đổ thừa, chạy tội mãi. Khốn nạn thay khi họ hưởng bổng lộc nhiều hơn ai hết nhưng 2 chữ "xin lỗi" thì không ai dám mở miệng ra nói hết; kể cả ông Trần Thiện Khiêm đang còn sống ở Eureka, CA. Khó làm sao 2 chữ "xin lỗi" ? Hèn như vậy mà làm tướng ư? Ngày 30/4 năm nay, tui vẫn mong chờ được nghe 2 chữ "xin lỗi" từ cả 2 phe VNCH và CSVN. Ít ra họ phải biết xấu hổ chứ?

Những ngày ấy, mỗi người

30/4/1975 là biến cố của một đất nước, nhưng ngày đó cũng là biến cố riêng của nhiều con người.
Trong dòng chảy tán loạn từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào Sài Gòn... có vô vàn những câu chuyện chưa kể. Nguyễn Thị Xuân Phương, cựu phóng viên truyền hình Bắc Việt kể lại rằng bà kinh hoàng nhìn thấy xác thường dân nằm ngập và kéo dài suốt từ đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng cũng với dòng người đi bộ, chạy... để tránh Việt Cộng. Còn phóng viên Trần Mai Hạnh của Thông Tấn Xã Việt Nam, người có mặt tại buổi trưa 30/4 với chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập, vừa ra một cuốn sách về 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, đã nói rằng cuối cũng thì điều ông tâm nguyện để lại, là sự thật.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn tự hỏi vậy thì vào những thời khắc ấy - kể cả sau đó, những người tôi biết - hay không quen - đang như thế nào, làm gì?
Gia đình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể rằng khi ngày 30/4 ập đến, chương trình biểu diễn tại Nhật của đoàn Hoàng Thi Thơ vẫn chưa chấm dứt, vì vậy ông bị kẹt ở lại, sau đó định cư ở Mỹ. Nhưng con và cháu ông thì lại có cơ hội chứng kiến nhiều điều mà đến mấy năm sau vẫn chưa thể kể cho nhau nghe, vì không thể có thư từ liên lạc, rồi đến khi có, cũng không dám kể gì cho nhau, vì thư luôn bị kiểm duyệt.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Hoàng Mỵ Thi Thoa và Hoàng Thi Thanh bất ngờ nhìn thấy một đám đông lính Bắc Việt và những thành phần "băng đỏ" đứng trước ngôi nhà của mình tại quận 1, đập cửa, quát tháo. Hai em nhỏ vị thành niên này cùng người cậu của mình bị buộc phải ra khỏi nhà ngay lập tức vì đang ở trong "nhà của tên có tội với nhân dân Hoàng Thi Thơ, nên đã bị chính quyền cách mạng trưng thu".
Tất cả mọi người được sự khoan hồng nên có được 5 phút để trở vào ngôi nhà của mình, lấy 2 bộ quần áo cho mỗi người và ra đi, không kịp đốt nén hương từ giã ông bà. Dĩ nhiên, ngay cả việc đi lấy quần áo cũng có người cầm súng theo kiểm soát vì sợ hai em nhỏ này cất giấu hay tẩu tán tài sản.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gạt nước mắt ra khỏi nhà của mình, đi cùng một người cậu về Gò Vấp, tới một căn nhà khác của ông Hoàng Thi Thơ. Nơi đó, một người em họ của ông Thơ xuất thần trở thành người của cách mạng, chiếm nhà và chỉ mặt Hoàng Vinh, người cháu của ông Thơ nói là đi cho mau, tha không bắt lại vì "khoan hồng", dù là người nhà của Hoàng Thi Thơ, là thành phần "truỵ lạc".
Với Phương, người nhạc sĩ của đôi song ca Lê Uyên Phương lừng danh, thì ông hoàn toàn rơi vào một cú sốc khác thường. Việc chứng kiến một Sài Gòn hỗn loạn và đổ nát, những con đường vất vưởng xác người cùng với loa phóng thanh ra rả về khái niệm "giải phóng" khiến ông bước sang một giai đoạn khác.
Những cảm hứng về nhạc tình, hiện sinh và mộng mơ bị chôn vùi theo mất mát của Sài Gòn. Lê Uyên Phương yêu đương dịu dàng ngày nào giờ đây hình thành hai tập ca khúc Con người, một sinh vật nhân tạo (1973-1975). Mỗi ngày ông ngồi ở cafe vỉa hè, đi bộ dọc theo những con đường phơ phất lá me xanh quen thuộc nhưng giờ đầy các họng súng AK, và tự mình chiêm nghiệm về một thời đại của những kẻ cùng tiếng nói nhưng khác mạch sống.
Cũng như nhiều nhạc sĩ khác bị cú sốc thời cuộc và chuyển khuynh hướng sáng tác tình ca sang hiện thực ca như Phạm Duy (Tỵ nạn ca), Ngô Thuỵ Miên (Em còn nhớ mùa xuân, Biết bao giờ trở lại), Anh Bằng (Nổi lửa đấu tranh, Saigon Kỷ Niệm), Lam Phương (Chiều Tây Đô), Trầm Tử Thiêng (Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, Một ngày Việt Nam)... Phương là một nhạc sĩ khá đặc biệt khi ông dành rất nhiều thời gian viết về những chuyển động quanh mình, về một thế giới mở và tang thương của hàng triệu người Việt, qua tập ca khúc Trại tỵ nạn và các thành phố lớn.
Những ngày ấy, mỗi người, mang vội theo những điều thương mến nhất, bỏ lại tài sản, bỏ lại quê hương... gạt nước mắt chạy đi về vô vọng. Ca sĩ Khánh Ly chạy đến chiếc tàu đi di tản, hành lý quan trọng nhất mà bà mang theo là hai vali đầy những lá thư tình trong đời bà - những lá thư không chỉ là tình yêu mà chứa cả khung trời thơ mộng và bình yên của miền Nam Việt Nam đã mất.
Nhiều văn nghệ sĩ táo tác như bầy kiến bị phá tổ, chạy đến nhà nhau để hỏi thăm tin tức từng ngày về số phận của mình, số phận của thành phố mình đang sống. Họ thì thào với nhau về những biến động khó hiểu từng ngày như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca vừa bị bắt... Rồi ai đó bị thẩm vấn, và ai đó đã lặng lẽ xuống tàu giờ không còn nghe tin tức.
Thương gia đình, không nỡ bỏ xuống tàu vượt biên, nhạc sĩ Y Vân tiễn một người bạn thân lên đường. Nhưng đó lại là một chuyến tàu vĩnh biệt. Và đó là điều khiến ông trầm uất suốt nhiều năm liền, một ký ức sâu thẳm sau 1975.
Trong một lần nói chuyện với các anh chị đã qua thời khắc 1975, tôi nói đùa rằng một ngày nào đó nên lập một giải thưởng vô địch về người vượt biển nhiều nhất, vì tôi đã từng biết một chị người Công giáo ở khu Hoà Hưng đã tìm cách đi vượt biên 25 lần nhưng đều thất bại. Im lặng nhìn tôi trong tíc tắc, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn chỉ nhà văn Võ Quốc Linh, nói "đây, người vượt biển 26 lần". Rồi chỉ vào mình, anh Tuấn nói "còn mình, là 27 lần".
Vài năm sau 1975, khi nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn tốt nghiệp thủ khoa ngành sư phạm ở Nha Trang, khi bạn bè rủ nhau vui mừng lên bục nhận bằng, thì hiệu trưởng đến bên, ghé tai buồn rầu nói với anh Tuấn "con đừng lên nhận bằng. Công an đã đến tịch thu bằng vì nói gia đình con có vấn đề về lý lịch và có người đi vượt biên".
Nhiều năm sau, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn lang thang khắp các bờ biển miền Nam để tìm đường ra khỏi nước. Niềm tuyệt vọng và khát vọng tự do là sức mạnh lớn nhất giữ anh sống sót qua các trại tù khắc nghiệt nhất.
Ở trại tù nhốt người vượt biển tại Phú Yên, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn bị một cai tù tàn ác luôn tìm cách đẩy anh vào lao khổ, thậm chí dù biết anh là giáo viên, vẫn bắt anh làm công việc mỗi ngày phải hốt phân, gánh đi đổ cho cả trại. Đó là thời gian như địa ngục. Thân thể của ông có tắm bao nhiêu lần cũng không hết mùi hôi, những vết thương nhỏ nhất cứ lở loét chứ không thể lành.
Chuyến đi thứ 27, cuối cùng, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn đến được Úc. Anh xin nhận thêm công việc tiếp nhận và giúp đỡ và người tỵ nạn mới đến, như trả ơn cho những ngày tháng tự do của mình.
Một đêm nọ, nghe tin có một chuyến tàu vượt biên vừa đến. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ra nơi tiếp nhận. Khi đang đi lướt qua những người vừa cập bến, anh bất chợt nhìn thấy một gương mặt quen thuộc mà anh khó có thể quên trong đời: đó chính là viên công an cai tù đã hành hạ anh. Sững người nhìn viên cai tù ấy, ngược lại, nhân vật đó cũng bối rối quay mặt đi, né cái nhìn của anh Tuấn.
Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ôm đầu suy nghĩ suốt nhiều giờ, rồi chọn cách gặp riêng nhân vật cán bộ cai tù đó để hỏi thẳng rằng hắn muốn gì khi đến đây. Chỉ cần một lời tố cáo, cán bộ đó có thể bị trục xuất về Việt Nam, hoặc sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ và đưa ra toà vì tội từng tra tấn và hành hạ tù nhân.
Sợ hãi và tuyệt vọng, viên cán bộ thú thật là hắn đã lỡ yêu một người phụ nữ đã có gia đình là "Mỹ Nguỵ" nên không còn cách nào khác là từ bỏ tất cả, cùng người yêu vượt biển, mà không ngờ có kết cục như hôm nay.
Khi kể cho tôi nghe chuyện này, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ngừng giây lát, rồi nói rằng "không biết bây giờ tay đó sống ở đâu đó, trên nước Úc này". Anh đã im lặng và điền hồ sơ cho viên cán bộ cộng sản đó cùng người yêu của hắn tỵ nạn ở Úc. Vết thương chưa bao giờ của anh, một người bị hành hạ trong trại giam cũng như bị xô đẩy ra khỏi đất nước mình, cũng đã thanh thản chữa lành với lòng tha thứ.
Thật nhiều điều để ghi lại, từ hàng triệu người sống sót sau biến cố tháng 4/1975. Cứ vào thời điểm này, nhà nước Việt Nam gọi là đại lễ và tổ chức ăn mừng. Còn hàng triệu người Việt khác thì vào tưởng niệm, như buộc phải coi lại cuốn phim bi kịch chung cũng như những đoạn phim cay nghiệt của riêng mình.
Những ngày ấy, mỗi người. Những cuốn phim một chủ đề nhưng có muôn vạn phiên bản ray rứt đến nhiều đời sau.
Và trong một ngày ăn mừng "đại lễ" của nhà nước Việt Nam, tôi chợt nhớ đến viên cán bộ cai tù vô danh ấy. Tôi tự hỏi, ông ta sẽ đứng đâu giữa lằn ranh ngày 30/4 mỗi năm ấy? — tuankhanh

Viết cho tháng Tư

+Nhớ hồi còn ở nhà mình chơi với một chị bạn là dân Hà Nội, chị bạn lại có mấy người bạn đều sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, trong đó có hai người mình còn nhớ khá rõ.
Một người sang Ý theo diện lập gia đình, sống ở Ý nhiều năm, nhìn bên ngoài thì trông như người phương Tây với tóc nhuộm vàng hoe, chuyên mặc đầm, thích khiêu vũ, nhưng đầu óc thì chẳng hội nhập chút nào với xã hội văn hóa, tư tưởng tự do dân chủ ở nước người; vẫn rất “đỏ”, tích cực bênh nhà nước VN, về nước bỏ tiền ra làm một tập thơ lèng xèng trong đó chủ đề là ca ngợi ngày 1 tháng Năm, 19 tháng Năm, 2 tháng Chín v.v…Ví dụ, nhớ có lần mọi người nói chuyện sinh viên, dân chúng đi biểu tình chống Trung Quốc bị nhà nước sách nhiễu, bắt bớ, vị này ngay lập tức nói liền: Bắt là phải, cho chúng nó đi biểu tình để chúng nó làm loạn à.
Vị thứ hai cũng “đỏ” không kém, suốt ngày tự hào một thời từng là văn công mang dép râu đi vào chiến trường những năm chống Mỹ, nghe ai “nói xấu” nhà nước VN là lập tức đứng dậy bỏ về, không thích “đế quốc Mỹ”, thường hay nói mình chả thích sống ở nước ngoài, đời sống con người thiếu tình cảm lắm, chỉ thích ở VN thôi…
Thế nhưng cái vị sống ở Ý thì vẫn ở Ý là chính, còn cái vị không thích sống ở nước ngoài kia ngoảnh qua ngoảnh lại vài năm sau khi mình hỏi thăm chị bạn thì hóa ra đã kịp lấy một ông Việt kiều và sang Mỹ sống. Thỉnh thoảng vẫn về VN, vẫn kể tội ông chồng, kêu không hợp đủ thứ, nhưng vẫn không ly dị, mới năm ngoái đây đã giơ tay tuyên thệ, đầy long trọng, đầy tự hào khi được là công dân Mỹ!
Trên đây chỉ là hai mẩu chuyện nhỏ về hai con người cũng bình thường trong xã hội, mình còn gặp biết bao nhiêu người khác, sinh ra và lớn lên hoàn toàn trong chế độ này, gia đình con em cách mạng, bây giờ vừa có cơ sở làm ăn ở nước ngoài vừa đi đi về về làm ăn, thăm gia đình trong nước. Những người này bản thân họ và con cháu họ vừa được hưởng đời sống văn minh, y tế, giáo dục tốt ở nước ngoài, vừa muốn về chơi, làm ăn kiếm tiền thêm trong nước. Ngồi với những người không thích chế độ thì họ nói theo giọng của những người đó, cũng phê phán nhà nước, phẫn nộ vì những trái tai gai mắt trong xã hội. Ngồi với đám quan chức, công an thì họ lại nói theo ngôn ngữ của đám quan chức, công an…, chỉ trích, lên án đám hải ngoại chống phá nhà nước, đám "dân chủ" kích động nhân dân âm mưu phá hoại sự ổn định của đất nước...
Đó là chưa nói đến những người có quyền có chức, có vị thế trong guồng máy của nhà nước cộng sản, đám tư bản “đỏ”, con ông cháu cha thụ hưởng mọi bổng lộc của chế độ, có thể nói không ngoa rằng hơn 70% đám này cũng có cơ sở bãi đáp sẵn ở nước ngoài, dù vẫn đang còn ngồi ở VN để tiếp tục vơ vét, nhưng hễ về hưu hoặc có biến là vù ngay sang nước khác sống ung dung. Thế là ở trong nước vừa sung sướng vì ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, tha hồ chia chác, vơ vét, mà lại vẫn sướng khi đã hạ cánh ở nước người.
Không nhớ chính xác ai đó nói, những người “cộng sản” làm cách mạng không phải để giải phóng nhân dân mà là để giải phóng chính họ!
+Năm 1954, hơn triệu người dân chạy từ Bắc vô Nam (nếu mà được phép cho đi thoải mái, con số này chắc chắn cao hơn nhiều). Những ngày cuối cuộc chiến, hàng trăm ngàn người từ miền Trung hớt hơ hớt hải, tất tả chạy về Sài Gòn, nơi trú ẩn cuối cùng, trong khi đoàn xe của quân đội Bắc Việt đuổi sát sau lưng và đạn pháo nhắm thẳng vào đoàn người tay không, bồng bế nhau chạy. Có những người may mắn hơn chạy thoát trong những chuyến máy bay sang Mỹ hay trên những con tàu lênh đênh sang nước khác.
Quân đội Bắc Việt đuổi đến tận Sài Gòn. Sài Gòn mất.
Chỉ một thời gian ngắn sau, hàng triệu người bỏ nước ra đi, trong đó một nửa cập bến an toàn, một nửa bỏ xác dưới đáy biển sâu. Và trong suốt hơn 40 năm qua, dòng người ra đi đó vẫn chưa hề dừng lại, chỉ có điều là bây giờ người ta ra đi bằng nhiều con đường khác nhau.
Nhưng điều trớ trêu nhất là bây giờ trong hàng ngũ bỏ nước ra đi, đông không kém là những người của “bên thắng cuộc” và con cháu họ. Và còn chua chát hơn, những người của “bên thua cuộc” trước đây hầu hết ra đi với hai bàn tay trắng, còn bây giờ những người “chiến thắng” thì hầu hết mang theo cả mớ tài sản “khủng” cướp được của nhân dân và của việc bán rẻ đất nước!
Vậy có cái ngày 30.4.1975 để làm gì? Cả một cuộc chiến tranh dài hai mươi năm với cái giá máu xương quá đắt của hàng triệu người ngã xuống và một đất nước tan hoang, kiệt quệ, một món nợ khổng lồ với các nước Liên Xô, Trung Cộng và khối XHCN mà đảng cộng sản phải trả cả vốn lẫn lời hàng chục năm sau chưa hết, để làm gì?
Câu trả lời thật ra rất đơn giản: Là để đất nước này, nhân dân này thuộc toàn quyền sử dụng của đảng và nhà nước cộng sản, thậm chí chỉ thuộc về một nhúm người, để họ có quyền chia chác, cho thuê, cầm cố, đem vay, bán rẻ, cho không…ai thì cho, muốn làm gì thì làm, muốn đè đầu cưỡi cổ hơn 90 triệu người dân như thế nào tùy ý!
Mục tiêu lớn nhất của đảng cộng sản trước ngày 30.4.1975 là cướp quyền lực, giành quyền lực hay nói cách khác, giành toàn quyền lãnh đạo đất nước, bằng mọi giá. Mục tiêu lớn nhất của đảng sau ngày 30.4.1975 là giữ quyền lực, bằng mọi giá. Quyền lợi của đất nước, của nhân dân chưa bao giờ được đếm xỉa đến!
+Ngày 30.4.1975 là ngày cả dân tộc VN kết thúc một cuộc chiến tranh cho đến giờ vẫn chưa thể thống nhất được tên gọi là gì, với cái giá phải trả quá đắt, để từ đó bước vào một chế độ độc tài toàn trị tồi tệ và phá hoại nhất trong lịch sử VN.Song Chi.

Việt Nam cần một "Ngày xin lỗi"

Có thể đây là một giấc mơ, nhưng là một giấc mơ đẹp cho nên cứ thả lỏng tâm hồn mà rung động với nó.
Nguồn cảm hứng bắt đầu từ "Thanksgiving, Lễ Tạ ơn" của Mỹ.
Người Mỹ có ngày lễ mà ý nghĩa của nó không cần phải bàn cãi cũng thấy tính nhân bản của xã hội Mỹ đã tác động lên văn hóa của một đất nước có hàng trăm chủng tộc khác nhau nhưng cách ứng xử hình như chỉ còn có một: chia sẻ và biết ơn.
Lễ Tạ ơn làm cho dân tộc này lớn mạnh. Nó san sớt những ân huệ mà thượng đế ban cho nó và người nhận được những ân huệ ấy hướng mắt lên chốn xa xăm mà tạ ơn một cách chân thành tự đáy lòng và sự chân thành ấy lan tỏa trong mỗi gia đình người Mỹ. Ý nghĩa thật của ngày lễ hòa vào mọi nhà, kể cả những di dân chân ướt chân ráo mới tới đất nước này biết được rằng họ đang hưởng thụ ân sủng của thượng đế và ân sủng ấy không kỳ thị bất cứ màu da nào trên xứ sở này. Mọi người đều bình đẳng chia sẻ niềm vui ấy.
Chưa có ai nói rằng sự lớn mạnh của đất nước do công của một cá nhân, lãnh tụ nào của nước Mỹ mặc dù quốc gia này không thiếu những lãnh tụ thực sự vĩ đại. George Washington vĩnh viễn là một vĩ nhân, được tôn trọng và biết ơn nhưng chưa bao giờ được tôn thờ hay đòi hỏi phải có những lễ lạc to lớn hầu vinh danh cho cá nhân ông. Lý do đơn giản: tôn sùng lãnh tụ làm cho đất nước, con người tụt hậu. Mãi ăn theo một nấm mồ, lăng tẩm sẽ quên mất rằng tương lai không thuộc về người đã chết.
Việt Nam có rất nhiều lễ lạc nhưng cho tới nay chưa có một ngày lễ nào kết nối cả đất nước vào một ý nghĩa chung, ý nghĩa có thể thay đổi diện mạo một dân tộc vượt lên trên cái thường được người dân đồng tình và chính phủ thích thú: kinh doanh, hưởng thụ và tự sướng.
Sự phân rẽ ngay trong các ngày lễ cho thấy đất nước chưa bao giờ vượt qua được lằn ranh thù hận. Ngày quốc khánh nào hợp lý nhất của Việt Nam? Phải gọi ngày 30 tháng 4 là ngày gì mới đồng thuận cho cả trong lẫn ngoài? Sinh nhật của lãnh tụ có ý nghĩa gì khi chính cái tiểu sử của ông hay bà ấy có vấn đề nghiêm trọng bởi ý đồ làm mới và sửa đổi chi tiết nhân cách một cách không lương thiện? Tại sao lại có ngày Quân đội nhân dân khi quân đội chỉ là công cụ do người dân đóng góp tiền bạc xương máu để bảo vệ quốc gia đất nước?
Việt Nam thiếu một ngày lễ làm lành với nhau. Làm lành để tự chữa những vết thương lịch sử.
Làm lành để tự rửa sạch vết bẩn trong tâm hồn của mỗi công dân. Làm lành để ấp ủ và hâm nóng lại đạo đức trong đám đông. Làm lành với nhau để thấy rằng không có ai trong cộng đồng là hoàn hảo và vì vậy chỉ có làm lành mới có thể trám được vết nứt giữa người với người, nhất là đồng bào đồng chủng.
Làm lành không thể được thực hiện một cách chung chung, đại trà qua các phong trào ồn ào khoa trương và kệch cỡm. Làm lành không thể được đưa ra từ kẻ mạnh đối với người yếu đuối trong khi hai tay khoanh chặt trước ngực với tư thế chủ nhân.
Làm lành mà không xin lỗi thì vô ích. Một nụ cười cầu tài kiểu Trung Quốc chỉ làm người nhận quên trong một thời khắc mà không có bất cứ sự chia sẻ nào tự đáy lòng. Làm lành bằng nụ cười giống như lấy cát chà xóa vết dơ trên chén đĩa vừa mới ăn xong. Sạch bởi áo giác và vết dơ vẫn còn đó.
Xin lỗi là hành động thiết thực nhất chứng tỏ sự làm lành từ tâm nguyện.
Xin lỗi không những làm lành vết nứt giữa hai đối tượng mà nó còn tự hoàn thiện cho người nói tiếng xin lỗi trong việc làm, cách cư xử hàng ngày của mình. Xin lỗi làm cho người ta lương thiện hơn, cẩn thận hơn trong từng công việc hàng ngày.
Trong buổi sáng tinh mơ của Ngày xin lỗi, Việt Nam choàng dậy với người nông dân ở thôn quê khi vỗ vào đầu con trâu của mình và nói với nó rằng, xin lỗi con ta đã tận dụng sức lực của con nhiều quá, thôi thì mình ráng thêm chút nữa để mùa lúa năm nay tốt tươi mà con không quỵ ngã nửa chừng nhé.
Ngày xin lỗi làm tiếng rao hàng của người mua gánh bán bưng trong trẻo và yêu đời hơn vì trong thâm họ biết rằng chắc ai đó sẽ xin lỗi mình hôm nay khi lỡ miệng nói những điều không phải.
Quốc hội Việt Nam bắt đầu Ngày xin lỗi với cái cúi đầu tập thể thật sâu trước cử tri của mình. Xin lỗi về những sai sót, bất cẩn và vô trách nhiệm nằm sâu thẳm trong từng đại biểu. Cái cúi đầu ấy không làm cho Quốc hội nhỏ lại mà ngược lại dù bị o ép thế nào đi nữa trong lương tâm của họ sẽ tự gióng lên tiếng chuông tự trọng của lời xin lỗi.
Chính phủ bắt đầu Ngày xin lỗi trong tâm thế của người công chức chứ không phải là lãnh đạo theo ngữ nghĩa quan quyền. Hãy thật sự suy nghĩ trước khi xin lỗi về điều gì đang làm cho người dân đau khổ và trách nhiệm ấy phải được công khai nhận lãnh qua lời xin lỗi chân thành.
Trong Ngày xin lỗi, báo chí nghỉ nửa ngày vào buổi sáng như một cách tĩnh tâm, suy nghĩ và xin lỗi về trách nhiệm của mình đối với độc giả. Lời xin lỗi ấy sẽ được công khai trên trang nhất tờ báo vào bản tin buổi chiều sẽ cho thấy tầm cao và bản lĩnh của từng tờ báo.
Không những học sinh xin lỗi thầy cô giáo mà từng bậc cha mẹ cũng xin lỗi con cái về những hành xử bất công đối với chúng. Tu sĩ xin lỗi giáo dân, tín đồ. Người công nhân xin lỗi chủ nhân về những gì mình sai phạm.
Chủ nhân không phải là gỗ đá để không thấy rằng trong cả năm qua không làm gì quá đáng đối với công nhân và lời xin lỗi nếu không được đưa ra đáp trả họ sẽ nhận lại bằng những cái nhìn khinh bỉ.
Không có ai là không có lỗi trong xã hội và Ngày xin lỗi là cơ hội để từng người nhìn lại một năm đầy những lỗi lầm.
Người Kinh nếu có cơ hội lên vùng sâu vùng xa hãy thốt lời xin lỗi với đồng bào thiểu số của mình ngay cả khi trong mỗi cá nhân người Kinh không trực tiếp làm ra lỗi gì. Cái lỗi duy nhất mà trong mỗi người Kinh phải chịu là không tác động lên chính quyền đủ mạnh để có chính sách nâng đỡ những tộc người nghèo khó hơn họ, yếu ớt hơn họ và nhất là bị bao vây cô lập bởi núi rừng, dốt nát và lạc hậu hơn họ.
Và Ngày xin lỗi không thể thiếu những lời xin lỗi cần thiết và ý nghĩa nhất: Lời xin lỗi đối với hàng triệu đồng bào trực tiếp hay gián tiếp bị thúc đẩy, xua đuổi ra khỏi đất nước Việt Nam.
Lời xin lỗi từ những ai đã từng mù quáng hô hào các cuộc chiến tranh thần thánh gây ra cái chết cho hàng triệu chiến binh cả hai miền đất nước cũng như để lại hậu quả cho người còn sống. Xin lỗi cho người sống, kẻ chết là cách hàn gắn hố phân ly và khi ngày lễ ý nghĩa này trở thành truyền thống sẽ là niềm tự hào dân tộc chứ không phải từ những tự hào vớ vẩn nào khác.
Người Nhật có cái cúi đầu thật sâu, Người Mỹ gắn liền trên môi câu xin lỗi khi tiếp xúc với xã hội. Việt Nam mỗi năm chỉ có một ngày xin lỗi nhưng nếu cả nước cùng xin lỗi thì sự vượt qua được tâm lý tự kỷ ít nhiều trong mỗi con người không đáng là niềm tự hào hay sao?— canhco

Bài viết hay(4855)

Bạn hỏi tui: Sao ngày xưa tui ưa viết bài dài lê thê nhưng bây giờ lại viết ngắn ngủn vậy? Đơn giản: ngày xưa còn trẻ còn siêng, bây giờ già rồi lười biếng, dành sức lo cho con. Viết có được xu nào đâu mà ham viết dài? Bởi vậy cứ gõ vài chữ cho xong là phải lo cho con rồi chứ ở không đâu mà dông dài nhiều chuyện. Vả lại viết dài thì ai rảnh đâu mà thèm đọc cho mệt! Viết về du lịch, xây dựng, kiến trúc, quy hoạch thì bây giờ đã có vô số người viết hay hơn rồi chứ đâu phải chỉ có vỏn vẹn vài cây bút như thập niên 80s. Người ta viết có tiền. Tui viết có được xu nào đâu? Điều mà tui thích viết bây giờ là viết về những nỗi bất hạnh, bất công, bât mãn của chính mình và của đồng bào mình trước chính quyền, dù là ở Mỹ hay ở VN. Ngày 30/4/75, tui đã nhìn thấy giọt nước mắt lăn dài trên 2 gò má của cha tui, chú tui khi ông DVM tuyên bố đầu hàng mà không nói lên được lời nào. Uất hận. Thất vọng. Bất mãn. Bởi vậy, suốt 42 năm qua, tui vẫn muốn viết về nỗi đau ấy đã gậm nhấm trong lòng biết bao người thua cuộc vào tháng 4/1975. Nỗi đau còn đó.

Vụ Đinh La Thăng: ‘Giây phút quan trọng cho Việt Nam’

Bí thư Thành ủy TPHCM Đinh La Thăng tiếp ngoại trưởng Mỹ John Kerry hôm 13/1. Bản quyền hình ảnh Getty Images

Một nhà nghiên cứu người Mỹ đưa ra những nhận định sơ khởi sau khi Ủy viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thi hành kỷ luật.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thi hành kỷ luật với đương kim Bí thư Thành ủy TPHCM hôm 27/4.
Nói với BBC, chuyên gia Jonathan London từ Đại học Leiden, Hà Lan, nhận định:
“Với những người đứng ngoài vòng trong cùng của chính trị Việt Nam, không thể biết chính xác những gì đang xảy ra bên trong Bộ Chính trị. Sẽ khờ dại nếu cứ đồn đoán cá nhân nào trong Bộ Chính trị đóng vai trò thúc đẩy cuộc điều tra này.
“Điều thú vị và quan trọng hơn về vụ này, và phần nào đó cũng giúp giải thích những chuyện khác và giúp ta lạc quan, là cách câu chuyện phát triển, và những gì nó cho ta biết về Việt Nam hiện nay.
“Hãy nhớ lại. Các cáo buộc và bằng chứng có thể tin được về sai phạm phát tán ra trong xã hội Việt Nam, tạo nên lo ngại của công chúng, thúc đẩy cuộc điều tra. Toàn bộ diễn ra mà chẳng có thảo luận gì thực sự trên báo chí nhà nước.
Một câu hỏi đặt ra là vì sao cuộc điều tra đã kéo dài như vậy”.

Chống tham nhũng

“Cũng chưa rõ câu chuyện này có ý nghĩa gì cho Việt Nam và chiến dịch chống tham nhũng của nhà nước.
“Có thể ý nghĩa của nó là chống tham nhũng, nếu muốn có hiệu quả, phải tạo điều kiện cho báo chí chuyên nghiệp hơn, tạo ra các kênh cho công chúng tham gia chống tham ô như đã thấy ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan. Ở những nước đó, công dân và nhà báo có thể đóng góp chống tham ô mà không sợ bị trả thù.
“Cũng có thể nó có ý nghĩa là tại Việt Nam, không ai ở trên luật pháp một khi mức độ tố cáo sai phạm và bằng chứng đạt đến ngưỡng nào đó và được tung ra trong dân chúng.
“Dù thế nào, và dù vụ này có tiến triển ra sao, đây là giây phút có lẽ sẽ đóng vai trò quan trọng cho Việt Nam.
“Có lẽ lạc quan hơn cả, đây là giây phút để nhà nước và xã hội nhận thức rằng để giám sát hành vi của doanh nghiệp nhà nước, thì các chính sách đòi hỏi minh bạch, giải trình thì cần thiết đấy nhưng chả đủ. Cần thêm dân chúng được cho quyền. Và cần thêm nền báo chí có trách nhiệm, chuyên nghiệp và cũng có trách nhiệm giải trình.
“Trong trường hợp ông Đinh La Thăng, bằng chứng tung lên không gian công cộng rốt cuộc đang được lắng nghe. Chúng ta cần nhớ rằng nếu không nhờ những tiếng nói dũng cảm trong xã hội dân sự, việc lắng nghe bằng chứng này chắc chả xảy ra.
“Từ chuyện này, cái chúng ta cần không phải là nền văn hóa chính trị dựa trên tin đồn kết hợp bằng chứng cùng cáo buộc tự do lan truyền. Cái chúng ta cần là sự dũng cảm đưa đất nước đến những cải tổ định chế, trong đó nỗ lực chống tham nhũng nhận được sự quan tâm và ủng hộ cần thiết của công chúng”.

Những ngày ấy, mỗi người


30/4/1975 là biến cố của một đất nước, nhưng ngày đó cũng là biến cố riêng của nhiều con người.

Trong dòng chảy tán loạn từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào Sài Gòn... có vô vàn những câu chuyện chưa kể. Nguyễn Thị Xuân Phương, cựu phóng viên truyền hình Bắc Việt kể lại rằng bà kinh hoàng nhìn thấy xác thường dân nằm ngập và kéo dài suốt từ đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng cũng với dòng người đi bộ, chạy... để tránh Việt Cộng. Còn phóng viên Trần Mai Hạnh của Thông Tấn Xã Việt Nam, người có mặt tại buổi trưa 30/4 với chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập, vừa ra một cuốn sách về 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, đã nói rằng cuối cũng thì điều ông tâm nguyện để lại, là sự thật.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn tự hỏi vậy thì vào những thời khắc ấy - kể cả sau đó, những người tôi biết - hay không quen - đang như thế nào, làm gì?
Gia đình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể rằng khi ngày 30/4 ập đến, chương trình biểu diễn tại Nhật của đoàn Hoàng Thi Thơ vẫn chưa chấm dứt, vì vậy ông bị kẹt ở lại, sau đó định cư ở Mỹ. Nhưng con và cháu ông thì lại có cơ hội chứng kiến nhiều điều mà đến mấy năm sau vẫn chưa thể kể cho nhau nghe, vì không thể có thư từ liên lạc, rồi đến khi có, cũng không dám kể gì cho nhau, vì thư luôn bị kiểm duyệt.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Hoàng Mỵ Thi Thoa và Hoàng Thi Thanh bất ngờ nhìn thấy một đám đông lính Bắc Việt và những thành phần “băng đỏ” đứng trước ngôi nhà của mình tại Quận 1, đập cửa, quát tháo. Hai em nhỏ vị thành niên này cùng người cậu của mình bị buộc phải ra khỏi nhà ngay lập tức vì đang ở trong “nhà của tên có tội với nhân dân Hoàng Thi Thơ, nên đã bị chính quyền cách mạng trưng thu”.
Tất cả mọi người được sự khoan hồng nên có được 5 phút để trở vào ngôi nhà của mình, lấy 2 bộ quần áo cho mỗi người và ra đi, không kịp đốt nén hương từ giã ông bà. Dĩ nhiên, ngay cả việc đi lấy quần áo cũng có người cầm súng theo kiểm soát vì sợ hai em nhỏ này cất giấu hay tẩu tán tài sản.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gạt nước mắt ra khỏi nhà của mình, đi cùng một người cậu về Gò Vấp, tới một căn nhà khác của ông Hoàng Thi Thơ. Nơi đó, một người em họ của ông Thơ xuất thần trở thành người của cách mạng, chiếm nhà và chỉ mặt Hoàng Vinh, người cháu của ông Thơ nói là đi cho mau, tha không bắt lại vì “khoan hồng”, dù là người nhà của Hoàng Thi Thơ, là thành phần “truỵ lạc”.
Với Phương, người nhạc sĩ của đôi song ca Lê Uyên Phương lừng danh, thì ông hoàn toàn rơi vào một cú sốc khác thường. Việc chứng kiến một Sài Gòn hỗn loạn và đổ nát, những con đường vất vưởng xác người cùng với loa phóng thanh ra rả về khái niệm “giải phóng” khiến ông bước sang một giai đoạn khác.
Những cảm hứng về nhạc tình, hiện sinh và mộng mơ bị chôn vùi theo mất mát của Sài Gòn. Lê Uyên Phương yêu đương dịu dàng ngày nào giờ đây hình thành hai tập ca khúc Con người, một sinh vật nhân tạo (1973-1975). Mỗi ngày ông ngồi ở cafe vỉa hè, đi bộ dọc theo những con đường phơ phất lá me xanh quen thuộc nhưng giờ đầy các họng súng AK, và tự mình chiêm nghiệm về một thời đại của những kẻ cùng tiếng nói nhưng khác mạch sống.
Cũng như nhiều nhạc sĩ khác bị cú sốc thời cuộc và chuyển khuynh hướng sáng tác tình ca sang hiện thực ca như Phạm Duy (Tỵ nạn ca), Ngô Thuỵ Miên (Em còn nhớ mùa xuân, Biết bao giờ trở lại), Anh Bằng (Nổi lửa đấu tranh, Saigon kỷ niệm), Lam Phương (Chiều Tây Đô), Trầm Tử Thiêng (Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, Một ngày Việt Nam)... Phương là một nhạc sĩ khá đặc biệt khi ông dành rất nhiều thời gian viết về những chuyển động quanh mình, về một thế giới mở và tang thương của hàng triệu người Việt, qua tập ca khúc Trại tỵ nạn và các thành phố lớn.
Những ngày ấy, mỗi người, mang vội theo những điều thương mến nhất, bỏ lại tài sản, bỏ lại quê hương... gạt nước mắt chạy đi về vô vọng. Ca sĩ Khánh Ly chạy đến chiếc tàu đi di tản, hành lý quan trọng nhất mà bà mang theo là hai vali đầy những lá thư tình trong đời bà - những lá thư không chỉ là tình yêu mà chứa cả khung trời thơ mộng và bình yên của miền Nam Việt Nam đã mất.
Nhiều văn nghệ sĩ táo tác như bầy kiến bị phá tổ, chạy đến nhà nhau để hỏi thăm tin tức từng ngày về số phận của mình, số phận của thành phố mình đang sống. Họ thì thào với nhau về những biến động khó hiểu từng ngày như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca vừa bị bắt... Rồi ai đó bị thẩm vấn, và ai đó đã lặng lẽ xuống tàu giờ không còn nghe tin tức.
Thương gia đình, không nỡ bỏ xuống tàu vượt biên, nhạc sĩ Y Vân tiễn một người bạn thân lên đường. Nhưng đó lại là một chuyến tàu vĩnh biệt. Và đó là điều khiến ông trầm uất suốt nhiều năm liền, một ký ức sâu thẳm sau 1975.
Trong một lần nói chuyện với các anh chị đã qua thời khắc 1975, tôi nói đùa rằng một ngày nào đó nên lập một giải thưởng vô địch về người vượt biển nhiều nhất, vì tôi đã từng biết một chị người Công giáo ở khu Hoà Hưng đã tìm cách đi vượt biên 25 lần nhưng đều thất bại. Im lặng nhìn tôi trong tích tắc, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn chỉ nhà văn Võ Quốc Linh, nói “đây, người vượt biển 26 lần”. Rồi chỉ vào mình, anh Tuấn nói “còn mình, là 27 lần”.
Vài năm sau 1975, khi nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn tốt nghiệp thủ khoa ngành sư phạm ở Nha Trang, khi bạn bè rủ nhau vui mừng lên bục nhận bằng, thì hiệu trưởng đến bên, ghé tai buồn rầu nói với anh Tuấn “Con đừng lên nhận bằng. Công an đã đến tịch thu bằng vì nói gia đình con có vấn đề về lý lịch và có người đi vượt biên”.
Nhiều năm sau, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn lang thang khắp các bờ biển miền Nam để tìm đường ra khỏi nước. Niềm tuyệt vọng và khát vọng tự do là sức mạnh lớn nhất giữ anh sống sót qua các trại tù khắc nghiệt nhất.
Ở trại tù nhốt người vượt biển tại Phú Yên, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn bị một cai tù tàn ác luôn tìm cách đẩy anh vào lao khổ, thậm chí dù biết anh là giáo viên, vẫn bắt anh làm công việc mỗi ngày phải hốt phân, gánh đi đổ cho cả trại. Đó là thời gian như địa ngục. Thân thể của ông có tắm bao nhiêu lần cũng không hết mùi hôi, những vết thương nhỏ nhất cứ lở loét chứ không thể lành.
Chuyến đi thứ 27, cuối cùng, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn đến được Úc. Anh xin nhận thêm công việc tiếp nhận và giúp đỡ và người tỵ nạn mới đến, như trả ơn cho những ngày tháng tự do của mình.
Một đêm nọ, nghe tin có một chuyến tàu vượt biên vừa đến. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ra nơi tiếp nhận. Khi đang đi lướt qua những người vừa cập bến, anh bất chợt nhìn thấy một gương mặt quen thuộc mà anh khó có thể quên trong đời: đó chính là viên công an cai tù đã hành hạ anh. Sững người nhìn viên cai tù ấy, ngược lại, nhân vật đó cũng bối rối quay mặt đi, né cái nhìn của anh Tuấn.
Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ôm đầu suy nghĩ suốt nhiều giờ, rồi chọn cách gặp riêng nhân vật cán bộ cai tù đó để hỏi thẳng rằng hắn muốn gì khi đến đây. Chỉ cần một lời tố cáo, cán bộ đó có thể bị trục xuất về Việt Nam, hoặc sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ và đưa ra toà vì tội từng tra tấn và hành hạ tù nhân.
Sợ hãi và tuyệt vọng, viên cán bộ thú thật là hắn đã lỡ yêu một người phụ nữ đã có gia đình là “Mỹ Nguỵ” nên không còn cách nào khác là từ bỏ tất cả, cùng người yêu vượt biển, mà không ngờ có kết cục như hôm nay.
Khi kể cho tôi nghe chuyện này, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ngừng giây lát, rồi nói rằng “không biết bây giờ tay đó sống ở đâu đó, trên nước Úc này”. Anh đã im lặng và điền hồ sơ cho viên cán bộ cộng sản đó cùng người yêu của hắn tỵ nạn ở Úc. Vết thương chưa bao giờ của anh, một người bị hành hạ trong trại giam cũng như bị xô đẩy ra khỏi đất nước mình, cũng đã thanh thản chữa lành với lòng tha thứ.
Thật nhiều điều để ghi lại, từ hàng triệu người sống sót sau biến cố tháng 4/1975. Cứ vào thời điểm này, Nhà nước Việt Nam gọi là đại lễ và tổ chức ăn mừng. Còn hàng triệu người Việt khác thì vào tưởng niệm, như buộc phải coi lại cuốn phim bi kịch chung cũng như những đoạn phim cay nghiệt của riêng mình.
Những ngày ấy, mỗi người. Những cuốn phim một chủ đề nhưng có muôn vạn phiên bản ray rứt đến nhiều đời sau.
Và trong một ngày ăn mừng “đại lễ” của nhà nước Việt Nam, tôi chợt nhớ đến viên cán bộ cai tù vô danh ấy. Tôi tự hỏi, ông ta sẽ đứng đâu giữa lằn ranh ngày 30/4 mỗi năm ấy?
FB Tuấn Khanh

Bóng ma Việt Nam vẫn còn sống

Hàng tháng nay, báo chí trong và ngoài nước (đặc biệt là ở Mỹ) tiếp tục bình luận về Chiến tranh Việt Nam, như “đến hẹn lại lên” (khi sắp đến 30/4). Hãng phim Florentine sắp chiếu (trên PBS, 9/2017) bộ phim tài liệu 10 tập “Vietnam War” (Ken Burns & Lynn Novick). Có lẽ “Bóng ma Viêt Nam” vẫn còn sống, tiếp tục ám ảnh người Mỹ và người Việt.
Ngày 30/4/1975, khi cuộc chiến kết thúc, lúc chiếc xe tăng số 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, và Tổng thống cuối cùng của VNCH Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi đang ngồi trong một phòng họp tại Amsterdam (dự một hội nghị quốc tế vì hòa bình). Tôi đã khóc vì cuộc chiến đẫm máu kết thúc, tuy chưa biết các bạn tôi trong “Trại David” sống chết ra sao khi sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích. Đáng nhẽ lúc đó tôi còn trong đó cùng với họ, nếu số phận không lôi tôi ra khỏi đó trước khi cuộc chiến kết thúc. Một cảm giác vui buồn lẫn lộn.
Ngày 30/4/1985, tôi vào Sài Gòn để tham gia sự kiện “kỷ niệm 10 năm kết thúc chiến tranh”. Đó là một kỷ niệm khó quên khi lần đầu tiên sau chiến tranh, mấy trăm nhà báo Mỹ đã quay trở lại, và Việt Nam lại xuất hiện trên màn hình radar quốc tế. Người ta gọi đó là “cuộc đổ bộ” của báo chí Mỹ (US media invasion), một sự kiện làm nhiều người buồn vui lẫn lộn, như báo hiệu đất nước đang trở mình đổi mới (tại Đại hội Đảng VI, tháng 12/1986).

Ngày 30/4/1995, nhân dịp “kỷ niệm 20 năm kết thúc chiến tranh”, tôi đã nhận lời tham gia một nhóm nhà báo làm diễn giả tại các sự kiện kỷ niệm ngày 30/4 tại Mỹ và Việt Nam. Đó là một dịp để nhìn lại quá khứ và nhìn tới tương lai, khi bình thường hóa Mỹ-Việt đang trở thành hiện thực, sau khi tiến trình đó đã thất bại hai lần (năm 1978 và năm 1993).
Năm 1995, Robert McNamara xuất bản cuốn sách “Hồi tưởng” (“In Retrospect: the Tragedy and Lessons of Vietnam”, Robert McNamara, Vintage Books, 1995). Trong cuốn sách đó, McNamara đã “thừa nhận 11 sai lầm” trong Chiến tranh Việt Nam. Nhưng tại sao ông ấy phải chờ 30 năm sau mới nhận ra và thừa nhận sai lầm mà George Ball (nguyên Thứ trưởng Ngoại giao) đã nhận ra từ trước khi Tổng thống John Kennedy quyết định can thiệp vào Việt Nam? George Ball đã cố khuyên can Tổng thống từ bỏ ý định đưa quân chiến đấu vào Việt Nam, nhưng lúc đó không ai thèm nghe ông ấy (trong đó có McNamara). Nên nhớ lúc đó McNamara là một trong những người Mỹ “thông minh và tài giỏi nhất” (“the Best and the Brightest”, David Halberstam, Random House, 1972). Phải chăng đó chính là sự “Ngạo mạn về Quyền lực” (“the Arrogance of Power”, William Fulbright, Random House, 1967)?
Nhiều người Mỹ gọi thái độ ứng xử đó của McNamara là thiếu tử tế (indecent). Tôi tán thành và (trong một buổi nói chuyện tại Mỹ) đã nói rằng nếu 20 năm sau chúng ta vẫn nói về quá khứ mà không nói về tương lai, thì cũng là thiếu tử tế và thiếu khôn ngoan. Đó có thể là lần cuối cùng tôi tham gia bàn luận về “ngày kết thúc chiến tranh”, vì từ ngày đó tôi không tham gia các lần kỷ niệm sau này nữa, mặc dù các bạn báo chí còn sống sót (gọi là “Old Hacks”) vẫn tụ tập tại Sài Gòn vào ngày 30/4. Nếu buộc phải có mặt thì tôi không biết nói gì.
Cách đây 2 năm, nhân kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh, tôi đã viết 2 bài về hệ quả của chiến tranh (“40 năm sau: Hệ quả Chiến tranh”, Viet-studies, 30/4/2015 và “40 năm: Lịch sử đang lặp lại”, Việt-studies, 24/6/2015). Điều đáng nói là 40 năm sau, người Mỹ và người Việt cuối cùng đang làm những gì mà đáng lẽ họ phải làm từ năm 1978 khi hai nước đã tiến gần đến bình thường hóa (chỉ còn gang tấc). Nhưng đáng tiếc là điều đó đã không xảy ra, cho tới năm 1995 (mới bắt đầu) và năm 2016 mới hoàn toàn bình thường hóa, khi tổng thống Obama thăm Việt Nam và tuyên bố bỏ hoàn toàn “cấm vận vũ khí” (arms ban). 
Nay 42 năm đã trôi qua, nhưng “Bóng ma Việt Nam” vẫn chưa chết, tiếp tục ám ảnh nước Mỹ và Việt Nam. Đại học Fulbright (FUV) là một câu chuyện hay đáng mừng, nhưng Bob Kerey là một câu chuyện dở đáng lo, như bị ma ám. Đó là một thực tế đáng buồn. Nước Mỹ thời Donald Trump đầy bất ổn, và bất định. Tại Việt Nam, các phe phái và các nhóm lợi ích tiếp tục tranh giành quyền lực quyết liệt như có nội chiến, dù người ta có thừa nhận hay không. Tiếng súng Yên Bái (8/2016) là một cảnh báo về cực đoan và bạo lực leo thang. Trong khi thảm họa môi trường Miền Trung do Formosa gây ra (4/2016) làm cả nước khủng hoảng, sự cố Đồng Tâm đã làm cả nước bức xúc, cho đến khi quả bom được tháo ngòi (22/4/2017). Hội nghị Trung ương 5 & 6 cũng gần như “Đại hội Giữa kỳ”, không khác mấy Đại hội XII. Kỷ luật ông Đinh La Thăng là tiếng súng mở màn cho một trận chiến mới giành quyền lực.
Cộng đồng người Việt tại Mỹ vẫn đang tiếp tục bị phân hóa, sau khi PBS chiếu bộ phim tài liệu “Terror in Little Saigon” (Frontline & ProPublica, PBS, 3/11/2015) liên quan đến vụ sát hại 5 ký giả gốc Việt tại Mỹ (cách đây hơn 30 năm, nghi là do “K-9” của “Mặt Trận” gây ra). Gần hai năm qua, Nguyễn Thanh Tú (con trai ký giả Đạm Phong) đã tiếp tục điều tra để tố giác kẻ chủ mưu, để “tìm công lý cho cha”. Trong một cuộc họp báo tại Little Sài Gòn (17/3/2017) Nguyễn Thanh Tú đã tố cáo đích danh “Việt Tân” đã sát hại cha mình.
Trong khi hai nước cựu thù (Mỹ và Việt Nam) đã bình thường hóa, và đang trở thành đối tác chiến lược, thì người Việt vẫn chưa thể hòa giải được với nhau, dù với người còn sống hay đã chết. Không những thế, người Việt trong cùng một bên, thậm chí cùng một đảng, cũng mâu thuẫn nặng nề, coi nhau như kẻ thù không nhìn mặt. Phải chăng cực đoan và thù hận là di sản của chiến tranh, đã ăn vào máu người Việt, như một nghiệp chướng?
Năm 2005, ông Võ Văn Kiệt nói, “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Đó là một suy nghĩ đúng, dù muộn còn hơn không. Nhưng đáng tiếc suy nghĩ đó chỉ là một thiểu số trong một đất nước mà tư duy cực đoan và hận thù vẫn còn ngự trị giới cầm quyền. Tranh giành quyền lực giữa các nhóm lợi ích vẫn đang diễn ra quyết liệt như nội chiến, nên buồn nhiều hơn vui.
30/4/2017Nguyễn Quang Dy