Sunday, June 25, 2017

Dân Đồng Tâm vẫn muốn tin vào đảng và chính quyền Hà Nội

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung về xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội đối thoại với dân ngày 22 tháng 4 năm 2017.
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung về xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội đối thoại với dân ngày 22 tháng 4 năm 2017.
Cụ Lê Đình Kình, người đại diện dân chúng xã Đồng Tâm, ngoại thành Hà Nội cho biết ông mong muốn chính quyền Hà Nội giải quyết vụ tranh chấp đất giữa người dân với chính quyền địa phương trước khi tiến hành khởi tố điều tra người dân xã Đồng Tâm. Ông đồng thời cũng cho biết bất chấp quyết định khởi tố mới đây của công an Hà Nội, người dân xã Đồng Tâm vẫn tin vào đảng và Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung.
Giải quyết đất đai trước
“Tôi muốn nói với đồng chí Nguyễn Đức Chung là có kết luận thanh tra trước, xong rồi khởi tố vụ án sau. Bởi vì khi khởi tố vụ án thì đầu tiên phải tìm hiểu nguyên nhân, chứ không bao giờ lại khởi tố vụ án lưng chừng hoặc phần cuối.”
Lời chia sẻ vừa rồi không chỉ là mong muốn của riêng cụ Lê Đình Kình, người đại diện người dân xã Đồng Tâm, sau khi Cơ quan Cảnh sát Điều Tra thuộc Công an Hà Nội ra thông báo khởi tố vụ án hình sự “bắt giữ người trái pháp luật và hủy hoại tài sản” ở xã Đồng Tâm.
Qua cuộc trao đổi giữa cụ Lê Đình Kình với facebooker Hồng Thái Hoàng được chia sẻ trực tiếp trên trang mạng xã hội vào ngày 16/6, cụ Kình, 82 tuổi, nói rõ:
“Chúng tôi rất thông hiểu rằng việc ‘khởi tố vụ án’ còn cách xa với việc ‘khởi tố bị can’. Sự việc này xảy ra rất nghiêm trọng. Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức làm rất nhiều việc trái chiều, đi ngược lại quan điểm, đường lối chống tham nhũng của Đảng và thậm chí tập trung vào trù dập những anh em chúng tôi là những người tố cáo. Thế nên, tôi có đầy đủ bằng chứng để nói lên việc này.”
Tôi muốn nói với đồng chí Nguyễn Đức Chung là có kết luận thanh tra trước, xong rồi khởi tố vụ án sau.
- Cụ Lê Đình Kình
Trong nội dung cuộc trò chuyện giữa cụ Kình với facebooker Hồng Thái Hoàng, mà Đài Á Châu Tự Do được sự đồng ý của facebooker này để trích dẫn lại, nhiều người quan tâm vụ việc Đồng Tâm hiểu rõ ngọn ngành vì sao những người nông dân ở đây luôn thượng tôn pháp luật nhưng buộc phải bắt giữ 38 cán bộ, công an và cảnh sát cơ động hồi trung tuần tháng 4 để được đối thoại với chính quyền Hà Nội.
Câu chuyện liên quan đất đai của người dân Đồng Tâm khởi nguồn từ năm đầu tiên của thập niên 60 hồi thế kỷ 20, nhà nước ra quyết định thu hồi 300 héc-ta đất để xây dựng trường học và dân chúng vui lòng cống hiến vì lợi ích chung cho cộng đồng và xã hội. Đất của gười dân Đồng Tâm bị thu hồi 47, 36 héc-ta lần thứ hai để phục vụ cho việc xây dựng sân bay Miếu Môn có tổng diện tích 208 héc-ta, do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký vào tháng 4/1980,
Vì dự án xây sân bay Miếu Môn bị treo trong gần bốn thập niên qua, Bộ Tổng Tham mưu, hồi cuối tháng 3 năm 2015, ra Quyết định 551TM lấy 50, 3 héc-ta đất trong tổng diện tích 208 héc-ta của sân bay Miếu Môn giao cho Viettel. Đến đầu năm 2016, chính quyền huyện Mỹ Đức lại lấy thêm 59 héc-ta đất canh tác nông nghiệp của người dân ở Đồng Tâm để thực hiện Quyết định 551TM mà theo cụ Kình là hoàn toàn sai.
“Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức ra quyết định lấy 59 héc-ta đất ở xã Đồng Tâm để giao cho Viettel. Số đất này là hoàn toàn không có quyết định thu hồi và nhân dân Đồng Tâm từ xưa đến nay vẫn lao động trên mảnh đất này. Ngược lại, cán bộ tham nhũng của xã phân thành 56 lô để bán. Cho nên nhân dân xã Đồng Tâm kiên quyết giữ lại đất nông nghiệp của mình. Bởi vì nó là tư liệu sản xuất để làm ra của cải vật chất nuôi sống con người.”
Cụ Kình cũng cho biết người dân Đồng Tâm tốn rất nhiều tiền của đi khiếu nại quyết định thu hồi đất phi lý của chính quyền huyện Mỹ Đức. Tuy nhiên:
“Tất cả huyện Mỹ Đức và một số cơ quan thông tin cứ đưa trái chiều. Nghĩa là, nhân dân Đồng Tâm vào tranh chấp đất quốc phòng trong khu vực 47, 36 héc-ta là không đúng sự thật.”
le-dinh-kinh-nguyen-phu-trong-400.jpg
Cụ Lê Đình Kình. Ảnh chụp lại từ video clip
Vào đầu tháng 4/2017, ba cán bộ của Bộ Quốc Phòng đến xã Đồng Tâm để điều tra vụ việc. Trong lúc tiến hành đo đạc, chiếu chụp mốc giới phần đất nào thuộc quốc phòng và phần đất nào là đất nông nghiệp với sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và dân chúng Đồng Tâm, cụ Kình khẳng định với nhân viên của Bộ Quốc Phòng:
“Đây là đất nông nghiệp Đồng Tâm. Các anh có đưa máy chém để chém ngay đầu tôi rơi xuống đất thì tôi vẫn giữ quan điểm rằng đây là đất nông nghiệp của xã Đồng Tâm.”
Bởi tin tưởng vào chính quyền địa phương và đại diện của Bộ Quốc Phòng, cụ Kình nói với bà con đang có mặt rằng ai về nhà nấy, theo như yêu cầu của họ và ngay sau đó cụ Kình đã bị cán bộ huyện Mỹ Đức đá gãy xương đùi:
“Lúc bây giờ họ không chiếu chụp ngay mốc nữa mà Trần Thanh Tùng đá tôi gãy xương đùi. Họ mở xe lên. Hai anh đứng hai bên, mỗi anh cầm một chân một tay thảy tôi lên ô tô như một con vật. Khi bị thảy lên xe, tôi đã nói ‘các anh đánh đá tôi gãy chân rồi’ nhưng họ phớt lờ. Họ lấy còng số 8 ra còng tay tôi lại và đút giẻ vào mồm tôi. Mục đích của họ là bịt đầu mối và thủ tiêu tôi. Bởi vì tôi là người đứng đầu ký tên trong đơn tố cáo, khiếu nại việc này.”
Mặc dù cụ Kình được đưa vào bệnh việc chữa trị và được đích thân Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung tận tình thăm hỏi, nhưng cán bộ của chính quyền địa phương huyện Mỹ Đức luôn miệng gọi cụ là “thành phần gây rối trật tự công cộng”.
Vững tin vào công lý
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung vào chiều 22/4 đã đến thôn Hoành, xã Đồng Tâm để đối thoại với người dân Đồng Tâm. Ông Nguyễn Đức Chung ký giấy cam kết thực hiện 3 điều theo nguyện vọng của người dân ở đây, bao gồm: trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo đoàn thanh tra đất đai ở Đồng Tâm và thông báo kết quả sau 45 ngày, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm, tiến hành xác minh và xử lý vụ việc bắt và gây thương tích cho cụ Lê Đình Kình.
Mục đích của họ là bịt đầu mối và thủ tiêu tôi. Bởi vì tôi là người đứng đầu ký tên trong đơn tố cáo, khiếu nại việc này.
- Cụ Lê Đình Kình
Bản cam kết được thiết lập trước sự chứng kiến của dân chúng Đồng Tâm, chính quyền địa phương, ba Đại biểu Quốc Quốc hội Đỗ Văn Đương, Dương Trung Quốc và Lưu Bình Nhưỡng và luật sư đại diện của bà con xã Đồng Tâm với tư cách làm chứng. Cụ Kình nói:
“Có một điều là từ trước đến nay chưa từng có Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã lại được ký xác nhận chữ ký của đồng chí Chủ tịch thành phố.”
Tuy nhiên sau quyết định khởi tố của công an Hà Nội vào hôm 13 tháng 6 đã có nhiều lo ngại cho rằng Chủ tịch Hà nội đã bội ước và người dân Đồng Tâm có thể mất lòng tin vào chính quyền.
Thế nhưng, trong đoạn video mới nhất, cụ Kình khẳng định rằng dân chúng Đồng Tâm vẫn luôn tin vào thiện chí của ông Nguyễn Đức Chung, đồng thời cũng cảm thông cho việc ông Nguyễn Đức Chung không giữ được cam kết “không truy tố” người dân Đồng Tâm trong vụ việc bắt giữ người hồi đầu tháng 4 vì theo họ có thể một cá nhân ông không đủ thẩm quyền để quyết định.
Và với thông báo của Chính quyền Hà Nội kéo dài thời gian thanh tra 59 héc-ta đất nông nghiệp đến ngày 23/7 thay vì thời hạn công bố vào ngày 23/6, theo như cam kết của ông Nguyễn Đức Chung, cụ Kình xác nhận người dân Đồng Tâm tin tưởng vụ việc Đồng Tâm sẽ được thanh tra tận tường và giải quyết một cách công minh.
Dân oan ở Dương Nội, anh Trịnh Bá Phương, lên tiếng với RFA sau khi nghe chia sẻ của cụ Lê Đình Kình, người đại diện của bà con xã Đồng Tâm:
“Lực lượng Cơ động của Hà Nội đã về để đàn áp người dân và cả người trong Quân đội cùng Công an huyện Mỹ Đức đánh cụ Kình gãy xương đùi. Những đối tượng đó mới là những kẻ vi phạm pháp luật và những kẻ đó cần phải được đưa ra để khởi tố thì mới đảm bảo được công bằng.”
Một nhóm luật sư hỗ trợ cho người dân xã Đồng Tâm hôm 19 tháng 6 công bố Kiến nghị số 01 với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội và Chánh Thanh tra thành phố Hà Nội đề nghị cùng hợp tác nhằm giải quyết khiếu nại đất đai ở Đồng Tâm theo đúng pháp luật để bà con nơi đây được nhanh chóng ổn định cuộc sống.Hòa Ái, phóng viên RFA2017-06-21






































Khi niềm tin đang bị mất dần

Một phụ nữ gánh hàng rong đi qua một pano tuyên truyền Đại hội đảng toàn quốc trên đường phố Hà Nội ngày 15 tháng 1 năm 2016.
Một phụ nữ gánh hàng rong đi qua một pano tuyên truyền Đại hội đảng toàn quốc trên đường phố Hà Nội ngày 15 tháng 1 năm 2016.



























Trong những ngày diễn ra các phiên chất vấn của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 14 vừa qua, một số đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi liên quan đến niềm tin của người dân đối với nhà nước và Đảng.
Niềm tin đang mất dần
Ngày 15 tháng 6, Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Minh Hiền, Phú Yên bấm nút đăng ký chất vấn Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hoà Bình về những vấn đề liên quan đến các công trình dự án lớn đang thua lỗ hoặc đắp chiếu. Phần chất vấn của vị đại biểu này được kết thúc bởi câu hỏi:
“Chính phủ đặt tâm thế của mình vào đâu để hành động khi mà kỷ cương phép nước, quyền lợi của người dân vẫn không được chú trọng. Chính phủ có cần đến niềm tin của người dân nữa hay không. Các thành viên Chính phủ có cam kết gì về lộ trình cho những giải pháp đã đề ra, để những cam kết này sẽ là lời hứa “ba mặt một lời” trước cử tri, để Quốc hội giám sát tối cao?”
Phát ngôn của đại biểu Phạm Thị Minh Hiền được truyền thông trong nước xem là một trong những chất vấn gây ấn tượng nhất trong kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 14.
Chưa đầy 72 giờ đồng hồ sau đó, tại phát biểu thảo luận ở hội trường về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng, đại biểu Ksor Phước Hà (Ksor H’Bơ Khăp) tỉnh Gia Lai đặt câu hỏi "Đất rừng mà còn bị mang đi bán thì trồng rừng bằng niềm tin hay sao?”.
Thực tế không phải chỉ riêng hai vị đại biểu Quốc hội trên chất vấn về cách quản lý điều hành của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, môi trường đã gây ảnh hưởng mạnh đến niềm tin của người dân đối với Đảng và nhà nước, mà ngay chính từng người dân trong xã hội cũng đang cho thấy họ đang mất dần niềm tin vào một đội ngũ lãnh đạo.
Từ môi trường
Hơn một năm nay, cái tên Formosa gần như chiếm lĩnh toàn bộ nội dung đăng tải trên mạng xã hội và hơn nữa là sự quan tâm của người dân Việt Nam trong và ngoài nước, kể cả quốc tế.
Thảm hoạ môi trường biển do Formosa gây ra từ tháng 4 năm ngoái cho đến nay, theo người dân vùng biển bốn tỉnh miền Trung, cuộc sống của họ vẫn chưa thể trở lại như trước. Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo khắc phục sự cố môi trường 4 tỉnh miền Trung của chính phủ cho biết hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống người dân trên địa bàn 4 tỉnh miền Trung đã cơ bản ổn định.
Khi được hỏi về lời nhận định trên, trả lời phóng viên đài của chúng tôi, một người dân tên Hùng một người dân làm nghề kinh doanh thực phẩm cung cấp cho các tàu cá ở Vũng Áng, Hà tĩnh nói rằng:
“À Thủ tướng nói như thế nhưng tôi nghĩ chưa có gì đâu, ở Việt Nam mình họ cứ nói “trên mây dưới mưa như thế”. Chương trình thời sự nói biển tắm được ở ngoài kia, nhưng tôi cảm thấy nước vẫn độc.”
Một người dân khác có tên Quang ở Kỳ Anh - Hà Tĩnh, vốn là thợ lặn từng làm việc cho Công ty Forrmosa. Anh cũng chính là nạn nhân của thảm họa biển nhiễm độc và phải nằm viện điều trị một thời gian dài chia sẻ suy nghĩ của anh:
“Họ nói như thế để cho thấy không có việc gì xảy ra, tôi nghĩ không có biển sạch, cá thì vẫn có lùm xùm vẫn ra biển đi làm kiếm cá được, song bán cá họ mua với giá cá héo. Trên thực tế nước biển vẫn nhiễm nặng, không sinh hoạt được, nước biển vẫn nhiễm đấy.
Cho đến quản lý hành pháp
16c27f79-1a97-4c97-ae33-01ab3d300d7e-400.jpg
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung về xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội đối thoại với dân ngày 22 tháng 4 năm 2017.AFP photo
Cách đây khoảng hai tháng, một diễn diến được cho là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử cận đại của Việt Nam sau 1975, đó là người dân thôn Hoành, Đồng Tâm Mỹ Đức thể hiện sự phản kháng của họ đối với vấn đề cưỡng chế đất đai, đền bù, khiếu kiện bằng hành vi bắt giữ 38 cán bộ và công an làm con tin.
Mâu thuẫn được giải quyết bằng cuộc đối thoại chưa từng có giữa người dân và nhà cầm quyền, và kết thúc bằng một bản cam kết cũng chưa từng có trong lịch sử hành pháp và tư pháp của Việt Nam, đó là bản cam kết viết tay của chính ông chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cùng với chữ ký của những vị đại biểu Quốc hội làm người đại diện.
Trong ba nội dung của bản cam kết thì ở nội dung thứ hai, ông Chung cam kết không truy cứu trách nhiệm hình sự người dân Đồng Tâm.
Thế nhưng ngày 13 tháng 6 vừa qua, Công an Thành phố Hà Nội quyết định khởi tố hình sự vụ Đồng Tâm.
Chính điều này đã từng tạo nên một làn sóng giận dữ từ người dân trong nước vì họ cho là ông Nguyễn Đức Chung không giữ đúng lời đã cam kết.
Theo một số những người theo dõi sự việc Đồng Tâm, họ cho rằng quyết định khởi tố vụ Đồng Tâm đã làm cho niềm tin của người dân vào Đảng và nhà nước ngày mất đi nhiều hơn.
Một độc giả có tên Nguyễn Kiến Nghị, từ Việt Nam chia sẻ với chúng tôi:
“Nếu phải nêu ra một thời điểm khi mọi việc bắt đầu trở nên "càng ngày càng" tệ, tôi sẽ không ngần ngại chỉ rõ là thời điểm đảng chủ trương "đổi mới". Muốn giải quyết tận gốc của vấn đề, đảng cần dẹp "đổi mới". "Đổi mới" làm gì khi dân càng ngày càng mất tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội, vào lý tưởng Cộng Sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh & sự lãnh đạo của đảng?”
Khi được hỏi về niềm tin của người dân Đồng Tâm nói riêng và người dân Việt Nam nói chung sau câu chuyện thôn Hoành có bị lay chuyển hay không, Nguyễn Anh Tuấn, nhà hoạt động xã hội từ Đà Nẵng cho chúng tôi biết ý kiến của anh.
“Dĩ nhiên đây cũng là đánh giá chủ quan của tôi, nhưng thông qua một số phát biểu của những dân làng Đồng Tâm, trong đó có những người tôi biết và có mối quan hệ cá nhân thì có vẻ như niềm tin của họ bị sa sút rất nhiều”.
Còn đó niềm tin?
Trong câu chuyện Đồng Tâm, niềm tin của người dân thôn Hoành được nhìn nhận không phải từ kiến thức pháp lý, mà từ việc quyền lợi đất đai của họ được ông Nguyễn Đức Chung giải quyết bằng những lời hứa trên một bản cam kết viết tay.
Thế nhưng, khi những cam kết đó không bảo vệ được họ, thì niềm tin của họ đối với Đảng và nhà nước có còn hay không? Cho đến thời điểm này, cụ Lê Đình Kình, người được xem là thủ lĩnh của dân làng Đồng Tâm vẫn khẳng khái trả lời rằng “chúng tôi tin tưởng hoàn toàn vào Đảng”.
“Quan điểm của tôi, có Đảng là có tất cả chứ không phải có con cháu là có tất cả.”
Nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn nhận thấy trong sự việc Đồng Tâm, niềm tin của người dân được họ đặt trên cả luật pháp, và anh gọi đó là “những niềm tin còn sót lại”.
Còn theo quan điểm của một luật sư trong nước, ông nói rằng niềm tin của người dân cả nước đang nhìn vào Đồng Tâm như một tấm gương. Đồng Tâm được giải quyết như thế nào, niềm tin của họ vào Đảng và nhà nước sẽ như thế ấy. Tấm gương ấy phản ảnh tất cả mọi sự việc liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau trong xã hội.
Những khía cạnh ấy, ít nhiều, có lẽ đã được hai nữ đại biểu Quốc hội, bà Phạm Thị Minh Hiền từ Phú Yên và bà Ksor Phước Hà (Ksor H’Bơ Khăp) Gia Lai đặt ra trong kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 14.Cát Linh, phóng viên RFA
2017-06-23

Ngày tốt nghiệp

Hai mươi bảy năm trước, con chỉ là một đứa trẻ tám tháng, ngủ mê mệt trên tay bà ngoại trên chuyến bay xuyên Thái Bình Dương từ Saigon đến San Francisco. Cuộc sống bắt đầu ở Mỹ đầy bận rộn và khó khăn, trong khi bố mẹ phải đi làm cật lực, con được phó thác cho ông bà. Làm sao con có thể nhớ ngày đầu tiên, ngoại đưa con đến trường vào lớp mẫu giáo, cho đến bây giờ, sau khi ra trường con đã đi xa.Ngày tốt nghiệp
Quãng thời gian dài nhưng đi quá nhanh, phải nói là như một chớp mắt. Trong quãng thời gian đó, đã bao lần ông ngoại đưa đón, chờ xe dưới cơn nóng nắng gắt hay cả trong khi tuyết rơi, chờ con ngoài sân vận động hay ở nhà bạn bè trong một buổi hội họp cuối tuần. Ở miền Đông, ông bà ngoại đã cùng chơi tuyết với con, dắt con đi tìm các loại lá vàng mùa thu để làm bộ sựu tập mai đem vào lớp học. Cuối tuần, ông bà đã dắt con ra ngoài park để con chạy nhảy nô đùa với bạn bè. Con lớn lên từng ngày, có thể ông bà không bao giờ nhận ra, cũng như tuổi già đến lúc nào mà ông bà không bao giờ thấy, cho đến một ngày nọ. Một biến cố gì đó xẩy ra, khi chúng ta dừng lại ở một dấu mốc ngày tháng nào đó, như chuyện ông ngoại vào bệnh viện trên chiếc xe cấp cứu, ngày ra trường của con, hay đến một lúc nào đó, con được cha con đưa vào nhà thờ, đi trên tấm thảm đỏ để nhận chiếc nhẫn đính hôn từ tay một thằng con trai xa lạ nào đó.
Đối với những người mẹ, thì nuôi con, tấm lòng mẹ đã trải dài biết bao nhiêu năm, với những tất bật, lo âu, phiền muộn từ khi đứa bé lọt lòng. Những bình sữa ấm, muỗng thuốc giảm sốt thời bé bỏng cho đến những chiếc lunch-box với chiếc bánh mì thịt, chai nước lúc vào trường. Mẹ mừng con chập chững biết đi ngày nào, cũng như lo âu vào ngày con được chính thức ngồi vào sau tay lái của chiếc xe đầu tiên của đời con. Mẹ đã chờ con lúc đi học về, nhìn y phục của con, nhìn vẻ mặt của con để tìm ra những gì đã xẩy ra trong lớp học hay ngoài sân chơi trong ngày hôm nay, cũng như mẹ thức suốt đêm lo lắng và cầu nguyện lúc con đi dự lễ prom mải mê với bạn bè chưa về. Nếu con là trai, mẹ sợ con theo bạn bè hư hỏng, nhận phải những điều tai ương, với con gái mẹ lo sợ từng lúc theo quan niệm Á Đông của mẹ, chuyện “khôn ba năm, dại một giờ”. Mẹ muốn con thật thà, tỏ bày với mẹ những gì con đã gặp, con đã làm và những điều gì con giấu diếm, không muốn nói ra, nhưng bây giờ con đã có một thế giới riêng của con.
Đối với mẹ, bao giờ con cũng là đứa con bé bỏng dưới bàn tay che chở của mẹ, dù hôm nay, ngày tốt nghiệp con đã trở thành một ai, một nhân vật nào đi nữa. Nhưng những lời khuyên răn, dạy dỗ của mẹ bây giờ không còn phù hợp nữa. Nhiều đứa con gái đã chẳng kêu lên: “Mẹ ơi! Con đâu còn nhỏ nữa!” là gì!
Ngày ra trường kết thúc một thời gian theo đuổi việc học, có thể để bắt đầu cho một cuộc đời mới mẻ của đứa con, nhưng người mẹ mơ hồ cảm thấy đó là một giai đoạn kết thúc từng chặng đời của bà, đối với từng đứa con. Như con chim đủ lông đủ cánh, đứa con sắp rời tổ để bay xa. Đội mũ tốt nghiệp, mặc áo choàng, cổ mang vòng hoa tím, con tươi cười giữa đám bạn bè, anh chị em vây quanh chúc mừng ngày ra trường của con. Cả cha mẹ cũng đến ôm con vào lòng, nói những lời chúc tụng bình thường, nhưng có đứa con nào nói được một lời, chân thành với nước mắt, mà cũng không người mẹ nào mong được nghe con nói một câu như: “Mẹ ơi! được như ngày hôm nay cho con, mẹ đã trải qua biết bao nhiêu lo âu, hy sinh biết bao nhiêu tiền bạc, sức khỏe. Con mang ơn mẹ biết bao nhiêu!”
Tình thương như dòng suối chảy mãi từ cao xuống thấp, như “nước mắt chảy xuôi”, chuyện thường tình mà nhiều thế hệ người Việt chúng ta đã xem như là một định luật. Mười tám tuổi, đối với đứa con là tuổi trưởng thành, nhưng đối với người mẹ con chỉ là một đứa bé ngày nào không hơn không kém. Người mẹ ao ước được ôm những đứa con trong tay vì lúc nào bà cũng tưởng như chúng hãy còn bé dại. Những món ăn bà chăm chút nấu ra không còn là món thích của con thời nhỏ, những giờ phút quanh quẩn bên mẹ không còn có gì thích thú, bây giờ bạn bè công việc là nguồn vui mới, đâu có điều gì mà đứa con cần phải kêu lên hai tiếng “Mẹ ơi!”.
Cứ một vài năm hay có khi từng năm một, người mẹ đã lần lượt dự nhiều ngày lễ ra trường của con cái, nhưng nhà mỗi năm mỗi vắng, những đứa con càng ngày càng xa gia đình hơn, trong khoảng cách lẫn trong tâm tưởng. Ngày Mother’s Day vừa qua, nhiều bà mẹ nhận được những lẳng hoa từ tiệm bán hoa mang lại, kèm theo hoa là những tấm thiệp vô hồn, đã được in ra hằng loạt. Tên của con đó, nhưng do một bàn tay xa lạ đã viết thay. Có khi là một tấm thiệp mua từ tiệm tạp hóa do con đã gởi từ xa về, có khi là một vài dòng chữ gởi mẹ qua máy điện toán. Và có khi, không là gì cả.
Vào khoảng thời gian này, nhiều trường lễ tốt nghiệp đã được cử hành trọng thể, đem lại niềm vui cho nhiều gia đình. Lời chúc mừng đầy trên các trang báo, tiệm hoa đông người mua, những nhà hàng nhiều gia đình đặt chỗ cho tiệc mừng. Ngày ra trường đối với nhiều người là sự kết thúc một đoạn đường vất vả học hành, nhưng bắt đầu từ đây là sự nghiệp, tiền bạc và thăng tiến ngoài xã hội. “Đại đăng khoa” rồi “tiểu đăng khoa”, sau đỗ đạt là hôn nhân, rồi tiếp theo là xe mới, nhà đẹp, con ngoan, “vinh thân-phì gia”. Ít người nhìn lại tình nghĩa gia đình và món nợ xã hội phải trả (trừ món “loan” mượn để học hành), vì những món nợ này không có chủ nợ và cũng không thấy ai đòi.
Đối với gia đình, ngày ra trường để lại trong mỗi gia đình những khoảng trống.
Ngày ra trường là một dấu mốc thời gian. Từ đó con ra đi với cuộc đời mới, con đường thênh thang trước mắt mà ít khi nhìn lại. Người mẹ vẫn ở đó, dưới mái nhà xưa kia, rộn rã tiếng cười trẻ thơ, bây giờ chỉ còn nghe tiếng Việt chuyển âm từ những cuốn phim bộ Trung Quốc đang chiếu trên máy truyền hình.
Người xưa thường cho rằng trên bàn thờ những đứa con nhà nghèo lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Chúng ta nhìn lại những gia đình ở Việt Nam ngày trước, những gia đình có những đứa con đỗ đạt là những gia đình trống vắng, vì những đứa con giỏi giang may mắn đều có nhiệm sở mới, đi làm ăn xa để lại nơi ngôi nhà cũ những đứa con ít học, nghèo hèn hay những cô con gái lỡ duyên, muộn màng hầu hạ cha già mẹ yếu hoặc chăm lo hương hỏa từ đường. Một ngôi làng có nhiều khoa bảng là một ngôi làng thường mang cảnh vắng lặng trong những ngày giỗ chạp, cúng tế hằng năm. Ở hải ngoại ngày nay, thường ít có cảnh cha mẹ ở với con cháu chung nhà như người xưa vẫn thường ca tụng: phước đức cho ai có được cảnh “tứ đại đồng đường” (bốn đời ở chung dưới một mái nhà). Nhưng đó là câu chuyện của một ngày xưa xa lắc, xa lơ!
Sau những niềm vui, là những nỗi buồn.
Huy Phương

Em tôi

Em tôiNăm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.
Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẵm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngồi ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.
Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.
Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu Trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết qủa là tôi đã đổ được bằng tiểu học năm đó.
Vào lớp đệ thất trường Phan Châu Trinh, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ thua tôi vài tuổi.
Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi .
Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trầm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở…
Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào “tuổi ngọc”, nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi “quyền huynh thế phụ”. Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.
Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà Nẵng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm được, tôi phụ mẹ nuôi em.
Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.
Lật đật trở vào Đà Nẵng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khóe mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.
Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và òa lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tĩnh mạch ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa.
Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc …. nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai dòng nước mắt chảy nhạt nhòa trên má.
Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi… Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẫm cả vạt áo me bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi …
Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nửa. Nhưng em thì phải trở lại trường.
Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi . Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời.
Tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao giờ dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.
Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khóa của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.
Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn… Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhỡ có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ.
Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng. Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.
Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lễ nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những “kỳ tích ” của bạn tôi, của Mễ, của Lô ….
Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm. Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lễ ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim củ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối , tôi thấy mắt Tuấn long lanh …
Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo.
Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em xúng xính trong bộ đồ cưới, tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em.
Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì “tai nạn” xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết qủa là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.
Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long. An Lộc … đã làm vinh danh binh chủng củ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạy.
Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rảnh rỗi, tôi lại ra Phan rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lảnh giòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao ước mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này .
Biến cố tháng 4 /75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em …
Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu, đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá …
Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhòa. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.
Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được, bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn người đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.
Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy.
Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.
Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi.
Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy trưởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ.
Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng, bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dửng dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình.
Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây giờ tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.
Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.
Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khỏe yếu lắm, em sợ nhỡ có mệnh hệ nào …
Tôi thẫn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nửa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?
Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi . Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Người chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung úy Trần nguyên Tuấn.
Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng người nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hóa đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhòa, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi …
Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du …Phan Nhật Nam

Hong Kong gặp khó khăn lớn về rác thải

Hồng Kông hiện là khu vực có mật độ dân số cao thứ tư trên thế giớiBản quyền hình ảnhRON YUE / ALAMY STOCK PHOTO
Image captionHồng Kông hiện là khu vực có mật độ dân số cao thứ tư trên thế giới.
Khi lần đầu tiên tôi gặp Chan King Ming tại Đại học Trung Quốc của Hong Kong, khó để tưởng tượng rằng khu vực này đang phải đối mặt với thảm hoạ môi trường. Chúng tôi đang nói chuyện vào một buổi sáng mùa xuân khô rét, trong khu trường đại học nhiều cây xanh ở New Territories của Hong Kong. Giữa các cây cối, tôi có thể nhìn thấy biển lấp lánh dưới ánh nhìn của các khối nhà của thành phố và sườn dốc núi phía sau. Không nhìn thấy một chai nhựa hoặc tờ báo phế thải vứt vương vãi.
Nhưng vẻ bề ngoài này là không thật. Hong Kong có thể là sạch trên bề mặt thôi. nhưng các dịch vụ công cộng đang gắng sức đậy cái nắp rác của thành phố . Mặc dù hết sức nỗ lực dọn dẹp, khu vực này đã tạo ra 3,7 triệu tấn rác đô thị năm 2015, con số lớn nhất trong 5 năm. Nó đã trải qua 13 bãi chôn lấp, và hiện đang được chuyển chức năng thành các công viên, sân golf và sân thể thao, chỉ còn 3 bãi rác đang hoạt động. Với tốc độ này, sẽ chỉ vài năm nữa là những bãi này cũng bắt đầu tràn đầy. "Nếu Hồng Kông tiếp tục theo cách này, chúng tôi sẽ đến điểm tới hạn vào năm 2020," ông Chan nói, một ước tính được xác nhận bởi Bộ Bảo vệ Môi trường của Hong Kong.
Chan là một nhà khoa học về môi trường và cũng là một chính trị gia của Đảng Dân chủ Mới của Hong Kong, kinh nghiệm đã cho ông một cái nhìn vô song về những khó khăn xã hội, kinh tế và công nghệ của việc cứu thành phố khỏi sự ngập tràn này. "Chúng tôi đang theo hướng đô thị hóa không bền vững," Chan nói. Và đó có thể là một cảnh báo cho các quốc gia khác, khi mà ngày càng có nhiều người cảm thấy sự cám dỗ của cuộc sống thành phố, có nghĩa là các nhà môi trường trên khắp toàn thế giới sẽ theo dõi sát sao các bước tiếp theo của Hong Kong.
Cư dân Hồng Kông có thể sớm phải trả một khoản phí nhỏ cho mỗi túi rác mà họ thải đi.Bản quyền hình ảnhSTEVE VIDLER / ALAMY STOCK PHOTO
Image captionCư dân Hong Kong có thể sớm phải trả một khoản phí nhỏ cho mỗi túi rác mà họ thải đi.
Với khoảng 7 triệu người, chen chúc trên diện tích 2.000 km2, Hong Kong hiện là khu vực có mật độ dân số cao thứ tư trên thế giới (sau láng giềng, Macau, Singapore và Monaco). Với diện tích có giá cao như vậy, còn ít chỗ để xây dựng các bãi chôn lấp mới.
Du lịch Hong Kong chỉ tạo thêm áp lực này. Do các ngành công nghiệp của khu vực chuyển sang Trung Quốc đại lục, khu vực này đã nỗ lực để thu hút nhiều du khách từ đất liền để thúc đẩy kinh tế của mình. Giờ đây, hàng năm có khoảng 60 triệu du khách thêm vào các hòn đảo này (gần 7 lần số dân sống thường xuyên ở đây) với khoảng 70% đến từ Trung Quốc đại lục. Các món ăn và các trung tâm mua sắm của Hong Kong là hai trong số những thứ thu hút chủ yếu, có nghĩa là mỗi khách sẽ tạo ra thêm nhiều rác thải về thức ăn và bao bì. "Chúng tôi cần họ để thúc đẩy kinh tế, nhưng cũng có những hạn chế," Chan nói.
Thêm vào những khó khăn này là tình trạng 'nền kinh tế tự do'của Hong Kong, có nghĩa là chính quyền không muốn áp đặt các quy định có thể đe dọa đến thương mại. "Có thể coi đây là nền kinh tế tự do nhất trên thế giới, vì vậy các quan chức chính quyền cố gắng hết sức để không can thiệp vào các dây chuyền sản xuất, hoặc vào hành xử của người tiêu dùng," Chan nói. Vì lý do này, thí dụ hiện nay có rất ít luật về đóng gói sản phẩm hoặc bất kỳ biện pháp nào khác để làm giảm chất thải.

Chiến dịch Hàng rào Xanh

Hồng Kông đã từng xuất khẩu rác thải sang Trung Quốc đại lục, nhưng luật pháp gần đây là nó phải xử lý rác thải của chính mìnhBản quyền hình ảnhSEAN PAVONE / ALAMY STOCK PHOTO
Image captionHong Kong đã từng xuất khẩu rác thải sang Trung Quốc đại lục, nhưng luật pháp gần đây là nó phải xử lý rác thải của chính mình
Cùng với nhiều nước khác, Hong Kong đã từng chuyển một số rác thải của mình sang Trung Quốc đại lục để tái chế. Trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc có thể tận dụng các kim loại phế liệu, chất dẻo, và các kim loại quý hiếm trong hàng điện tử, rác cũng thường đi kèm những đồ thừa vô dụng và gây nhiễm (kể cả thực phẩm và chất thải y tế), tạo ra những rắc rối tiếp theo về môi trường cho các thành phố Trung Quốc. Do đó, chính phủ đã quyết định cấm nhập khẩu các vật liệu chưa xử lý, một động thái được gọi là "Hàng rào Xanh", với hy vọng rằng các nước khác sẽ làm sạch vật liệu của họ trước khi bán những thứ có giá trị này.
Không may, Hong Kong vẫn chưa phát triển đủ các nhà máy tái chế của riêng mình để đáp ứng chính sách thay đổi này. "Vì vậy, những thứ đáng phải được gửi đến Trung Quốc để chế biến thì lại đang được đưa vào bãi rác," Doug Woodring, một nhà vận động môi trường và là đồng sáng lập của Liên Minh Khôi Phục Đại Dương, người tôi gặp sau khi tôi nói chuyện với Chan, nói.
Kết quả là, bất chấp những cảnh báo lặp đi lặp lại, rác thải của thành phố Hong Kong vẫn tiếp tục tăng lên trong 5 năm qua, và chính quyền sẽ cần phải hành động nhanh chóng trước khi tất cả các bãi chôn lấp rác ở đây hết mức chứa.
Một bước tiến lớn sẽ là việc đưa ra một "phí rác thải", khiến người dân địa phương phải trả khoảng 0,11 đô la Hong Kong cho mỗi lít rác thu được. Đạo luật mới, được công bố hồi đầu năm nay, sẽ có hiệu lực vào năm 2019, và tờ Bưu điện Hoa nam Buổi sáng ước tính khoảng 33-54 đô la Hong Kong (khoảng 3-5 bảng Anh) với mỗi hộ gia đình, mỗi tháng. Những người đề xướng luật này đã đi biển tới Đài Bắc ở Đài Loan, và Seoul ở Hàn Quốc, cả hai thành phố này đã giảm được 30% lượng rác thải bằng các kế hoạch tương tự.
Cục Bảo vệ Môi trường Hong Kong cũng đang tiến hành kế hoạch đưa một lò đốt rác trị giá 10 tỷ đô la Mỹ vào Lantau (hòn đảo lớn nhất của Trung Quốc lục địa, về phía tây nam của Hong Kong). Việc đốt chất thải sẽ làm giảm khoảng một phần mười kích thước của nó. Mặc dù vậy, nó chỉ có thể đốt được khoảng 30% tổng sản lượng rác của thành phố, theo ước tính của Chan. Giải pháp này hoàn toàn không được được người dân địa phương ưa thích, họ hiểu và lo ngại về sự ô nhiễm không khí sẽ gia tăng khi có lò đốt.
Không có các nhà máy tái chế mới, Hồng Kông sẽ phải chống trả với sự dâng tràn rác thải của dân thành phố và du khách.Bản quyền hình ảnhREUTERS / ALAMY STOCK PHOTO
Image captionKhông có các nhà máy tái chế mới, Hong Kong sẽ phải chống trả với sự dâng tràn rác thải của dân thành phố và du khách.
Chan lại nhiệt tình hơn về kế hoạch xây dựng một nhà máy chế biến thực phẩm ở Lantau, nơi sẽ tái chế chất thải từ các nhà bếp thương mại quanh sân bay. Ông chỉ ra rằng các nhà trồng trọt hiện đang nhập khẩu rất nhiều phân ủ com pốt từ mãi tận Hà Lan, trong khi rác thải thực phẩm phân hủy là một nguồn tự nhiên ở đây. Những nhà máy như vậy cũng có thể sản xuất biogas để chạy xe. "Theo ước tính sơ bộ, chúng tôi cần 20 nhà máy có quy mô đó để xử lý chất thải thực phẩm," Chan nói. "Nhưng tôi nghĩ nó đáng để làm, bởi vì chúng ta cần phải tái sử dụng hết mức các vật liệu còn dùng được."
Vùng đất này cũng có thể hưởng lợi từ các nhà máy xử lý rác thải điện tử, cho phép các nhà sản xuất trích xuất các vật liệu có giá trị để xuất khẩu, một động thái mà nó có thể thúc đẩy kinh tế Hong Kong. Nhưng những kế hoạch này cần sự hỗ trợ của chính quyền hơn nữa, kể cả một hệ thống tốt hơn buộc các gia đình và doanh nghiệp phải phân loại các loại rác thải khác nhau (gồm thực phẩm, nhựa, thủy tinh) ngay tại nguồn, trước khi chúng được thu thập. "Tại lúc này là chưa có," Chan nói.
Chỉ riêng khối lượng rác thải, xuất phát từ rất nhiều người, làm cho việc phân loại riêng rẽ cái gì tốt và cái gì xấu sau khi thu thập rác là quá khó khăn. "Vấn đề là ngay lúc này, mọi thứ đều để trong một túi (thức ăn, dầu mỡ, nào giấy, nào nhựa) và nó làm trung hòa giá trị của tất cả," Woodring nói. "Thậm chí nếu ta lọc rác ướt khỏi rác khô, thì cũng dễ dàng cho ai đó để có thể rút ra một số giá trị nhất định."
Woodring cũng muốn người ta và các công ty tính toán một "dấu chân chất dẻo", giống như "dấu chân các bon" cho phát thải khí nhà kính, để mọi người ý thức hơn về chất thải mà họ đang tạo ra. "Bởi vì nếu bạn không biết những gì bạn đang có thì bạn không biết làm thế nào để quản lý nó."
Như Chan và Woodring đều chỉ ra, các biện pháp môi trường không cần phải thách thức các doanh nghiệp ở Hong Kong: nó có thể tạo ra các cách để có thêm doanh thu mới. Ví dụ Woodring chỉ ra rằng Pacific Coffee (một trong những quán cà phê kiểu Mỹ phổ biến của thành phố) gần đây đã triển khai kế hoạch tái chế của riêng mình, nơi bạn có thể trả lại các nắp đậy qua sử dụng để được một lần rót thêm miễn phí, việc này giúp công ty thu gom vật liệu tái chế đồng thời làm tăng sự trung thành của khách hàng. Cho đến nay, các loại chiến lược kiểu này rất hiếm ở Hong Kong, nhưng đó là một bước đi đúng hướng, ông nói.
Sự sốt ruột của Chan là rõ ràng trong suốt cuộc trò chuyện với chúng tôi: vấn đề này là hiển nhiên ít nhất là trong một thập kỷ rồi, ông nói, nhưng tiến bộ là chậm, với những cuộc thảo luận triền miên thay vì ra chính sách có tính quyết định. "Chúng tôi đã lãng phí tất cả thời gian đó." Khi rác tiếp tục dâng tràn như lũ, sự bất động lúc này không phải là một lựa chọn.
BBC Future/Theo BBC